Bao giờ ta có sách “Người Việt xấu xí”?

Thói quen của con người là không thích bị chê, chỉ thích được khen. Viết chê bai rất khó lọt tai, nhất là ai dám viết sách về mảng tối văn hóa của một dân tộc. Tuy nhiên, nhiều quốc gia đã in sách về sự xấu xí của dân tộc mình.

Người xứ Garbovo (Bungaria) tự giễu tính ky bo kẹt xỉn của mình bằng “Truyện cười Garbovo“. Ban tổ chức thi truyện Garbovo cũng rất keo. Họ thông báo trao giải rất cao cho ai gửi truyện thú vị nhất về sự ky bo. Dân chúng ào ào gửi truyện đến. Cuối cùng ban tổ chức tuyên bố, không có truyện nào hay nhất để…quỵt luôn tiền thưởng, nhưng sách được xuất bản.

Khi viết “Người Trung Quốc xấu xí“, nhà văn Bá Dương (Bo Yang) đã viện dẫn, Chính phủ Mỹ coi cuốn “Người Mỹ xấu xí” như một tham khảo quan trọng để ra sách lược phát triển cho đất nước, tại sao Trung Quốc không làm thế. Cuốn sách in ở Đài Loan của ông đã được phát hành ở Trung Hoa lục địa những năm 1980, dù lúc đầu bị cấm và bị lên án tơi bời.

Tuy là dân ngoại giao, lẽ ra phải nói về cái hay cái đẹp của dân tộc, ông đại sứ Nhật ở Argentina lại viết cuốn “Người Nhật xấu xí“. Người Nhật vốn kín đáo, không thích phô cái xấu của mình.

Năm 1950, một nhà báo Mỹ viết cuốn sách về lớp tiện dân Ấn sống bẩn thỉu, vô văn hoá bị cả nước Ấn Độ lên án. Người cha tinh thần của Ấn Độ Mahatma Gandhi, khi đọc xong cuốn sách liền nói “chúng ta nên đi cọ chuồng xí thì hơn”. Nói rồi, ông cùng các tông đồ đi quét dọn nhà vệ sinh. Và từ đó, người Ấn không còn tầng lớp tiện dân.

Tai họa của dân tộc chính là chỉ nhìn thấy màu hồng mà không nhìn thấy màu xám. Hoặc định hướng cho hàng trăm triệu người “dân tộc ta vĩ đại nhất và mang trên vai những sứ mệnh lịch sử của thời đại“.

Kết quả, ra đường tham gia giao thông, ai cũng thấy mình “nhất” nên không biết nhường đường, xếp hàng mua vé thì “ta là vua tại sao phải đợi”.

Trước kia, người Nhật dạy con cháu quá đỗi tự hào về “dân tộc Nhật là mặt trời mọc của nhân loại” nên đã thảm bại trong chiến tranh thế giới thứ hai.

Sau đó, họ đã thay đổi trong sách giáo khoa cho học sinh “Nước Nhật nghèo lắm, không có tài nguyên. Các em không học giỏi, nước Nhật không thể tiến lên“.

Bây giờ, người Việt Nam ta sang phương Tây khi được hỏi xuất xứ, đôi khi phải xấu hổ tự nhận vơ là người Nhật.

Nước Mỹ nghiên cứu cái xấu xí để tìm ra đường đi lên của đất nước họ. Ngày nay, nước Mỹ có còn xấu xí hay không hoặc họ đang ở đâu trong thế giới này, chắc ai cũng biết.

Ông Bá Dương nói rất nhiều điều về nỗi khổ nhục gian nan của người Hoa trong 5000 năm lịch sử vì thói xấu của họ.

Ông cho rằng, một người Trung Hoa là một con rồng. Nhưng nếu ba người đi với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng một con giòi nữa.

Người Trung Quốc ưa làm quan, rất phong kiến, khi phán xét, suy luận, không dùng lý trí mà nặng về cảm tính; xã hội dựa trên tiêu chuẩn chính trị đạo đức thời hủ Nho, làm quan là cha mẹ thiên hạ.

Lúc tự kiêu thì thành ông chủ, xem mọi người đều là cứt chó hết. Khi tự ti nghĩ mình là tôi tớ, không bằng đống phân chó.

Người Hán đọc cuốn sách này có nhiều phản ứng khác nhau. Người lên án ông dám nhạo báng dân tộc mình, nhưng có người thấy nước Trung hoa cần thay đổi.

Trong tám năm chuẩn bị Olympic Bắc kinh, ngoài việc bỏ ra 40 tỷ đô la để đầu tư cho hạ tầng cơ sở, người Trung Quốc còn hướng dẫn trên tivi, sách báo làm sao dân chúng biết ăn ngậm miệng, không nhai tóp tép, đừng lấy tay ngoáy mũi, ra đường không nhổ bọt và xả rác bậy.

Hàng tỷ người trên khắp hành tinh theo dõi lễ khai mạc tại sân Tổ chim, chiêm ngưỡng dân tộc Trung hoa vĩ đại thế nào trong 52 phút trình diễn của Trương Nghệ Mưu.

Bề dầy văn hoá 5000 năm, sức mạnh đoàn kết dân tộc và kỹ thuật hiện đại được thể hiện hôm khai mạc Olympics đã nói lên tất cả. Một dân tộc tự ví mình là con giòi đã làm được điều kỳ diệu.

Người Mỹ không sợ người Nga nhưng họ lo người Hoa với một cộng đồng tỷ rưỡi, dự trữ ngoại tệ đứng thứ 2-3 thế giới và văn hóa Vạn Lý Trường Thành.

Ngoài việc ra những chính sách quan trọng về phát triển, đối nội, đối ngoại, họ cho phép in cuốn sách của một người Hoa lưu vong bên Đài Loan nói về sự xấu xí của người Trung Quốc.

Ở Việt Nam ta, ông Vương Trí Nhàn định in cuốn “Thói hư, tật xấu của người Việt” thì bị lên án tơi bời. Tôi chưa được đọc cuốn đó nên không thể nhận xét và không biết đã in chưa.

Có người lý luận, đoán cái xấu thì dễ, đoán cái tốt mới khó. Do điều kiện lịch sử, đời sống hiện đại của chúng ta đã sinh ra một lớp người lấy chuyện đoán “cái xấu” ra để làm lớp áo tri thức của mình.

Thậm chí có những người còn đi xa hơn bằng cách “làm yếu ớt đi, làm nhạt nhòa đi” chính nguồn cội của mình để mưu danh với thiên hạ”.

Câu bình luận ấy cũng “bỏ tù miệng” những ai dám nói lên án cái xấu, cái vô văn hoá.

Ý tưởng của ông Vương Trí Nhàn và sự dũng cảm của ông rất đáng ca ngợi. Một khi không dám nhìn vào cái xấu thì còn lâu mới có thể loại trừ chúng ra khỏi thói quen của chúng ta.

Báo Tiền phong có mục “Người Việt – Phẩm chất và thói hư tật xấu” được bạn đọc hưởng ứng và họ đã thu thập in thành sách.

Nhưng để có cuốn sách tầm cỡ quốc gia như “Người Trung Quốc xấu xí”, cần nhà chính trị dũng cảm dám nhìn thẳng vào sự thật, những trí thức, nhà văn hóa cần tìm ra những cái xấu, nguyên nhân sâu xa và quan trọng là cách khắc phục.

Nước nào cũng có người xấu và người tốt, thói hư và hành vi văn hóa đẹp đan xen. Giữa Paris hoa lệ thấy đôi người xả rác hay ăn xin, hay dẫm phải phân chó, nhưng không ai bảo người Pháp là ít văn hóa hơn người Việt.

Vào khách sạn Metropole hay Hilton Hà Nội, gặp người Việt làm việc trong đó ai dám nói là dân ta vô tổ chức hay bất lịch sự, thích chen lấn, ai bảo người Việt ít văn hóa hơn người Nga.

Vấn đề là gặp ai, ở đâu và hiện tượng xấu đẹp nhiều hay ít. Khi đó mới có thể phán xét về dân tộc đó. Nơi nào thói xấu nhiều thì dân tộc đó cần nhìn nhận lại chính bản thân mình.

Đọc “Người Trung quốc xấu xí”, tôi tâm đắc một câu “Sở dĩ, người Trung quốc xấu xí như ngày nay vì họ không hề biết mình xấu“.

Tờ New York Times đã ví ông Bá Dương như Voltaire của nền văn học Trung Hoa. Ông đã mất nhưng di sản “xấu xí của người Hán” để lại cho Trung Quốc chính là những mong muốn tốt đẹp cho ngày mai.

Nước Nhật, Hoa Kỳ hay xứ Bungaria được tiến bộ như ngày nay là vì họ đã xuất bản những cuốn sách về “di sản xấu” của chính dân tộc họ cách đây nhiều thập kỷ.

Nhiều nước trên thế giới đã khâm phục Việt Nam đã vượt qua bao thăng trầm của nhiều cuộc chiến tranh. Không ít người đã mong làm người Việt lúc đó. Nhưng chiến tranh đã qua, không ai muốn mang súng ra chiến tuyến.

Viết về mảng tối văn hóa chính là chiếu sáng cho sự tối tăm và mong ước điều tốt đẹp cho tương lai. Chắc chúng ta cũng mơ mộng, một ngày nào đó, có người châu Á sang phương Tây lại tự xưng là người Việt Nam. Dân tộc lúc ấy mới thực sự hạnh phúc.

Theo TUANVIETNAM – VIETNAMNET

Người Việt tự ngắm mình – Tổng Quát

IV. Tổng quát

Chúng ta đã cùng tự soi mình qua cả trăm trang về những cái còn tồn đọng của người Việt. Những điều này không phải đến lượt tôi, hay một ai trong các bạn nghĩ được ra, mà đáng mừng thay, chính người Việt từ ngàn năm nay đã thấy được những thói hư tật xấu của mình qua các phương ngôn chỉ ra như: “Ăn xó mó niêu”, “Dở ông dở thằng”, “Nôm na mách qué”, “Đầu voi đuôi chuột”, “Cả vú lấp em”, “Ngậm miệng ăn tiền”, hay “Phép vua thua lệ làng”…

Tôi chỉ làm thêm cách hệ thống hoá, bổ xung, và đào sâu chúng bằng cái nhìn hệ thống, theo cách thức nguyên lý, và học vấn. ít ra tôi đã cố làm cái việc, mà mọi dân tộc trên thế giới đều nghĩ: Đứa con có hiếu đích thực của dân tộc, thì phải biết làm giầu có thêm tài sản vốn có của dân tộc. Còn lại chỉ biết sài sẵn của dân tộc chỉ là loại vô tài, đức nhỏ.

Giờ đây, để thâu lại cái nhìn tổng quát, tránh rơi vãi tản mạn, tôi xin được hệ thống hoá một cách nguyên lý vào vài điểm chính:

1. Về mặt con người: Người Việt có một vóc hình nhỏ bé, vóc của những người sống ở phương Nam ấm áp, sức vóc nhỏ, thì thể lực có hạn, lại thêm khí hậu nóng ẩm dễ mệt và dễ ngại, nên người Việt dễ rơi vào thói lười biếng lãn công, chốn việc, làm qua loa đại khái, khuất mắt trông coi, chốn công làm lãi. Vì vậy muốn làm được những việc lớn, người Việt hãy khắc phục khó khăn này. Ta nhỏ bé, ta chóng mệt, thì ta hay nghỉ rồi lại hay làm. Chớ trở thành lười nhác hẳn, “nghỉ một lần cho khoẻ”. Đặc biệt trong các công việc văn chương, nghệ thuật, hay khoa học… Ta nên tích gió thành bão, tích tiểu thành đại. Chớ đã làm cái nhỏ, từng tí một, lại còn ngao du, chơi bời, du hí, thì cả đời có thể chẳng đi được một đoạn đường trường nào cả.

2. Về mặt nghề nghiệp: Muốn tinh thông và đạt đến đỉnh cao của mọi nghề thì chẳng còn cách nào khác là phải đi vào chuyên nghiệp. Khi sở trường được phát huy cao nhất, tay nghề cũng cao nhất, và lợi ích cũng thu về nhiều nhất. Chớ nên chưa tính thông bất cứ việc gì lại cứ phải quay lại ngắm “nỗi lo về tiền”, hay muốn đi hai chân một lúc cả lợi – cả danh, cả tiền – cả đức, thì sẽ chẳng thể đi xa. Chúng ta hãy nhớ đến hình ảnh một chiếc máy bay dù hiện đại đến đâu có thể cùng lúc bay về cả phía đông lẫn phía tây. Thánh Gandhi có nói: “Phương tiện càng thuần khiết thì mục đích càng sớm đặt được”.

3. Về địa lý: Về điểm mạnh rừng vàng biển bạc tôi không khai thác, mà xin lưu ý vào các điểm yếu. Người ta nói “Người là hoa của đất”. Người Việt người nhỏ bé như vậy là “hoa” chưa lớn, lại thêm cả ngàn năm mới chỉ biết làm mấy vần thơ vụn, nhận thức chưa phát triển nhiều, như vậy “hoa” đó cũng chưa đậu quả nhận thức, lại thêm bệnh viêm phổi cũng như tê thấp rất phát triển, có nơi chiếm đến 80% dân số, tuổi thọ ở ta cũng chưa cao – nghĩa là “hoa” cũng sớm tàn… Vậy chúng ta hãy thử xem thể chất địa lý của mình. Xương cốt của dải đất hình chữ S chúng ta là dải Trường Sơn, chạy từ dãy Hoàng Liên Sơn xuống, chủ yếu là đá vôi (Marble) chứ chưa phải đá granit, vì thế cũng có ảnh hưởng lớn đến “gân cốt” của giống nòi. Lại thêm, anh bạn tôi một nhà chế tạo nhạc cụ có nói, đi suốt từ Bắc chí Nam, dù chặt cây phơi gỗ hay đục đá để làm đàn, khi gõ vào nguyên liệu của xứ ta đều chỉ thấy vang lên 5 âm (ngũ cung): Cung, giốc, thuỷ, truỳ, vũ. (Gỗ ở các vùng khác trên thế giới vang lên 7 cung bậc). Để hiểu điều này, các bạn hãy ngắm những chiếc đàn đá của người Việt.

Nêu lên điều này chỉ để tham khảo, bởi tôi không phải nhà khoa học về chuyên ngành này, nhưng sự kiện này nêu lên để tham chiến cái gọi là: điều kiện sống về mặt địa lý – có những điều rất hà khắc với người Việt. Từ thể trọng nhỏ, lại sống ở một vùng khí hậu, nóng ẩm dễ ra mồ hôi, cùng với các điều kiện bất lợi khác ẩn sâu từ trong lòng đất (chẳng hạn như núi đá vôi có thể gây chứng biếu cổ, chứng tê thấp), để chúng ta nhìn ra mà khắc phục cả tình trạng thể chất, cả hoàn cảnh sống của mình.

4. Con người văn hoá: Con người hiển nhiên phải có văn hoá. Nếu không có văn hoá thì con người chẳng khác gì con thú sống trong hang hốc nhà mình. Có nhiều định nghĩa về văn hoá nhưng có một định nghĩa sinh tử rằng: Văn hoá thiết yếu là ứng xử với người khác, cho người khác, và cùng người khác.

Một người chỉ ru rú trong ổ kén của mình có thể mặc thế nào cũng được, ngồi thế nào cũng xong, nhưng khi ở trước mặt người khác, người đó phải thể hiện con người “văn hoá cách chung” của mình.

Vì thế, “người khác” là điều kiện đầu tiên của văn hoá. Từ trong thần thoại Hy Lạp, người Hy Lạp cũng mở màn dạy dỗ “Hiếu khách” là đức đầu tiên quan trọng của mỗi người. Trong kinh Thánh, cũng có ghi lời của Đức Chúa trời rằng: Người ta phải biết yêu tha nhân như chính mình. Và phải biết mở cửa cho người khác: “Kẻ nào gõ cửa sẽ được mở”.

5. Con người công lý: Người khác là điều kiện đầu tiên của văn hoá, vì không có thứ văn hoá một mình trong xó tối. Người khác cũng là điều kiện đầu tiên của công lý, vì cũng chẳng có công lý cho một mình ai cả.

Và công lý, là lẽ sống lý trí của con người gặp con người. Theo các triết gia thì lý trí hiển nhiên sẽ gặp công lý. Người bán rau, rồi người bán củi, rồi người bán thịt, kể cả người bán xăng, và tài xế lái xe. Khi gặp nhau ở chợ đều tự biết quy giá hàng của mình trong tham chiếu chung với giá hàng của người khác. Đó là công lý, đến một cách tự nhiên. Chẳng hạn, người trồng rau luôn hiểu, không thể một cân rau lang đổi lấy một cân thịt lợn, vì lẽ, con lợn phải ăn nhiều cân rau mới có thể sản sinh ra một cân thịt.

Một xã hội không thể tồn tại nếu không có công lý. Công lý nói giản dị là cái lý của chung mọi người. Và một cá nhân không thể lành mạnh thực sự về tinh thần nếu không có lý trí.

6. Con người tình cảm: Tình cảm là mối dây kết buộc mọi người cũng như xã hội. Không có đời sống tình cảm không có gia đình, cũng chẳng có xã hội. Nhưng tình cảm không thể là chiếc chiếu hổ lốn đựng tất cả những gì dựa cậy, trục lợi lẫn nhau, mà trong tình cảm cũng phải có công lý (điều này hiện nay cũng rõ, cha mẹ, vợ – chồng, con cái đều phải có tư cách hợp pháp trong xã hội hợp hiến). Cha từ thì con mới hiếu. Chồng hiền thì vợ mới thảo. Thầy giỏi thì trò mới ngoan.

7. Con người của lương tri và tiến bộ: Khi con người biết sống vì người khác, tức là đã “xả kỷ hiến tha”, cũng là sống có văn hoá. Con người đó sống bằng tình cảm – nồng thắm trái tim – nhưng vẫn sáng suốt lý trí, và lại biết sống chung với mọi người trong tinh thần công lý. Đó là con người đã thoát khỏi đời sống tồn tại bình thường vươn đến các giá trị của lương tri và tiến bộ.

*

* *

Như vậy cuốn sách của tôi, dù viết khá nhiều điểm, nhưng có thể chỉ tụ về 7 điểm trên thôi. Đó là mỗi chúng ta hãy ý thức về: Con người lý thể của mình, sau đó là sở trường chuyên môn của mình, kết hợp với hoàn cảnh sống thuộc địa lý là đất đứng của mình, rồi tiến đến con người văn hoá, con người công lý, và con người tình cảm.

Nhưng cả bảy điểm trên có thể quy gọn thành hai điểm chính thôi: hãy biết sống và yêu trong tinh thần công lý. Cũng có nghĩa phải biết nâng đời sống của chúng ta lên một tầm lý trí mới. Nếu lý trí của mỗi cá nhân đều cao chúng sẽ gặp nhau trên đỉnh tháp công lý cao cả của mọi người.

*

* *

Để kết thúc cuốn sách, tôi xin nêu lại hai câu thơ mở đầu của Tản Đà:

Dân hai nhăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.

Chúng ta có thể tranh cãi, có thể đồng ý hoặc không, nhưng tôi xin nêu mấy câu hỏi để chúng ta cùng suy ngẫm.

1. Có bao người trong chúng ta trở thành quý ông, học giỏi đã đành, nhưng sau đó dùng kiến thức làm hành trang dấn bước vào hành trình cuộc đời.

2. Có bao nhiêu người kiên định theo đuổi sở học, chuyên môn theo sở trường của mình trọn đời để có thể nối con đường thành công từ bệ phóng (lúc mở đầu) đến đỉnh cao của thành đạt và vinh quang?

3. Có bao nhiêu người theo đuổi phẩm chất chuyên môn hơn là phẩm chất quan trường? Và coi thành công ở chuyên môn mới là thành công cao nhất của sở trường; chứ không phải lấy phẩm chất “số ghế” quan trường để thay thế chuyên môn?

5. Có bao nhiêu người coi trọng danh dự, lương tri, công lý hơn là sự lo toan giá áo túi cơm của cá nhân hay gia đình.

6. Có bao nhiêu người làm việc như một sứ mệnh của cá nhân cần thiết cho mọi người hơn là khoe khéo khoe khôn để kiếm danh lợi cho mình?

7. Có bao nhiêu người coi sự cao quý của đời sống tâm hồn là hạnh phúc hơn sự dồi dào vật chất tiện nghi cho thân xác?

*

* *

Hy vọng, những câu hỏi tôi nêu ra để chúng ta cùng đếm lại chính mình. Chúng ta cũng biết, kẻ “vô sỉ” là loại bất thành nhân. Người Nga nói: “Không sợ dốt chỉ sợ không muốn học” Sợ nhất là việc chúng ta không nhận ra những cái xấu của mình; còn sợ hơn, biết là xấu nhưng cố tình coi là nó không tồn tại.

Tôi viết cuốn sách này, bằng cách mở màn ngắm cái xấu của tôi, và của gia đình tôi. Và cũng là những quá trình tự gạn lọc mình. Mong được chia xẻ với mọi người trong tinh thần “Trung ngôn nghịch nhĩ”, nhưng mà “Thuốc đắng dã tật”, để chúng ta cùng gạn đục khơi trong, trở nên những con người đã mới thì mới hơn, còn đang cũ thì sẽ mới.

Khai bút: 19h 59’ , ngày 4/2/2003

(Mùng bốn Tết Quý Mùi)

Hoàn thành: Ngày 26/3/2003

(24/2 Quý Mùi)


Chú thích

1. Kinh Thánh

Sách Cô – rinh – tô 11 : 18

2. L M. Mor faux

L’Homme et le Monde, Paris 1977, tr 188.

3. Hegel

Mỹ học,Phan Ngọc dịch, Hà nội 1999, tr 329

4. nt, tập II, tr 779

5. Platon,La République,Gallimard 1993

6. Galli M.Tresdey, Karsten J.Struhl, Richard E.Olsen

The Philosophical Quest,“Truy tầm triết học”

Lưu Văn Hy, Nguyễn Minh Sơn biên dịch, NXB Văn hoá thông tin 2001, tr 346

7. L.M. Morfaux

An thropologie – Méta physique – Philosophie,Paris: 1997, tr 106.

8. Fransois Jullien

Fonder La Morale

“Xác lập cơ sở cho đạo đức”,Hoàng Ngọc Hiến dịch, NXB Đà Nẵng 2000, tr 200

9. Jean Guitton, Grichka Bogdanov, I gor Bogdanov

Dieu et la Science, Paris 1996

“Thượng Đế và khoa học”,Lê Dieu dịch, BXB Đà Nẵng 1996

10. Vương Sóc

Người đẹp tặng ta thuốc bùa mê,Vũ Công Hoan dịch, NXB Văn hoá Dân tộc 2002, tr 161

11. Như số 5, tr 33

12. Tôn Trung Sơn

Chủ Nghĩa Tam Dân,Nguyễn Như Diệm, Nguyễn Tu Tri dịch, Viện Thông tin khoa học xã hội 1995

13. Như số 10.

14. Bá Dương
Người Trung Quốc xấu xí,
Nguyễn Hồi Thủ dịch – Paris 1997

Người Việt tự ngắm mình – Thể hiện nhiều, thực hiện kém

V.22. Thể hiện nhiều, thực hiện kém

Trước năm 1975, khi đất nước chưa thống nhất, ở phía Nam có lời một bài hát như sau:

“Bao nhiêu kiểu mới đưa sang
Việt Nam mà bắt chước
Còn hơn, hơn nước ngoài”.

Tại sao chúng ta lại hay bắt chước? Câu trả lời vẫn là: Chúng ta thiếu khả năng phát minh của lý trí, nên đành phải dùng trực cảm để bắt chước.

Vậy tại sao chúng ta thích thể hiện? Vì thể hiện là cách bày tỏ những thể thức bề ngoài, nó tương tự như cách nhìn người khác mà bắt chước nên chúng ta thường chuộng kiểu này. Đơn giản như các gánh hát hiện đại chẳng hạn, người phương Tây, làm gì đều có chức năng thực hiện từ trong xương tuỷ, họ la réo, hú, gầm khi hát để bộc lộ những cảm xúc của mình. Câu nào cần đau khổ thì ca sĩ phải cất cao giọng hát như muốn vỡ tim. Trái lại, người Việt thường quan niệm, ca nhạc là loại hình giải trí, nên chớ có hát mà đau đầu nên hát chùng thôi, thế là có biết bao gánh hát, tập hát những bài của Tây, nhưng lại hạ giọng chùng xuống. Than ôi, điệu bộ thì bắt chước người ta nhưng tâm hồn của người lên cao trào thì ta lại đòi thư giãn, thành ra nhảy múa thì loạn xạ vẻ hùng mạnh. Nhưng lời cất lên lại ẽo uột “nửa dơi nửa chuột”, nom đúng là cách “tâm hồn ăn cỗ trên chân tay”.

Hay như nạn đua xe máy chẳng hạn, ở Tây có những đua trường để người ta có thể thoả mái xưng hùng – xưng bá – “xưng mạo hiểm”. Đằng này ở ta, nhiều thanh niên lại diễn trò thao diễn ngay trên đường phố, làm khổ nhiều người.

Nhưng đề mục này đặc biệt có liên quan đến giới tri thức văn học nước nhà. Xứ ta thấy nghe nói làm thơ là “thiên sứ của lời”, thế là cũng đua nhau làm thơ. Nhưng than ôi kể từ thời Thơ Đường đến nay đã trên 1500 năm, người Trung Hoa cũng “bỏ xó” Thơ Đường lâu rồi, ở ta vẫn cứ hà hít là “hay lắm”. Nhưng họ đâu có quan niệm cái hay của nó nằm ở nghệ thuật, mà là ở chỗ nó chỉ có vài câu quá thích hợp với sự lười nhác bé bỏng của mình.

Đến khi, thế giới có chuyện ngắn mi-ni, thì cũng đua nhau viết, vì chuyện mi-ni rất hợp tạng với kẻ vừa yếu vừa lười. Đã thế còn đua nhau phát triển truyện ngắn không có cốt chuyện. Sao người ta không từng biết, triết gia Aristote, đã coi cốt chuyện (story) là yếu tố đầu tiên của văn chương, cũng như người Việt xưa nay đều quan niệm “có tích mới dịch nên trò”. Thực ra người ta thích truyện không cốt chuyện vì nó phù hợp với thể tạng tuỳ tiện, lười biếng của người ta.

Rồi chưa viết nổi tiểu thuyết, thấy thế giới nói “tiểu thuyết đã chết”, thế là ào ào nói theo: Tiểu thuyết đã chết! Rồi thấy thế giới bảo: “phản lý trí”, thì cũng đua nhau nói phản lý trí. Than ôi, chúng ta đã từng có nhiều lý tri đâu mà đòi phản nó. Như các nhà mỹ học nói: “Chỉ khi nào ta dứt áo rời khỏi nhà thì mới có lúc tận hưởng giờ phút trở về”. Thiếu lý trí, chỉ sống duy cảm, vậy mà nghe người khác nói “phản lý trí” thì cũng ùa theo nói: Lý trí đã chết, và:

Lý luận thì mầu xám
Cây đời mãi mãi xanh tươi.

Thực ra nhiều người nói thế, để khoả lấp, để xuê xoa, để nuốt chửng vấn đề người ta chưa từng sống lý trí. Triết gia Socrate cho rằng: “Không có một biến cố nào tai hại cho một con người cho bằng nó thù ghét lý luận”. Thù ghét lý luận là thù ghét cái cao nhất của nhận thức. Chính điều này cũng đã được thể hiện qua các sinh hoạt chính trị cao nhất của nước nhà rằng: Các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, và các cơ quan ngôn luận, cần phải nêu cao, tăng cường hơn về lý luận.

Thấy người ta diễn kịch, mình cũng diễn kịch, thấy người ta đóng phim mình cũng đóng phim. Nhưng người ta đóng như thật, còn ta đóng phim sợ người xem khi xem không biết mình là diễn viêm, nên đóng phải “lộ đuôi” là đang diễn. Than ôi!

Thấy người ta, viết thơ, viết truyện ngắn, viết tiểu thuyết thì cũng bắt chước, nhưng than ôi, người ta thể hiện những nội dung sống trong tác phẩm của mình, còn ta ngoáy, bới, ám thị hết trò nọ đến trò kia. Mong được nổi tiếng như “diễn viên” nhà thơ, nhà văn.

Thấy người ta đỗ tiến sĩ ngành nọ ngành kia, ta cũng đua nhau làm bằng tiến sĩ. Làm tiến sĩ mà không viết nổi một tiểu luận về chuyên ngành mình nghiên cứu thì làm làm gì?

Thấy người ta làm lý luận, thì ta không chịu làm, vì chỉ quen “dễ làm khó bỏ”. Thêm nữa làm lý luận phê bình thì chỉ khen người này chê người khác, khen hay chê cũng chỉ cho người, như vậy lòng ích kỷ của ta không được mân mê nắn bóp nên không làm. Nhưng không làm, thì không phải kẻ khác được làm, mà phải bị ra sức chê bai đố kỵ: sao chẳng có ai chịu làm lý luận phê bình? Không có nước làm sao có cá? Mỗi cá nhân còn không trau dồi trong đầu lý trí cho phê bình, thì làm sao có thể nói chẳng có con cá voi phê bình nào bơi cả? Phê bình là gì? Là phán xét, là phân đẳng cấp, kẻ cao – người thấp. Nhưng tự thân cảm thấy mình thấp bé, cũng tất nhiên thôi vì con người không trau dồi lý trí làm sao lớn được, nên loại bỏ lý luận phê bình ra khỏi đời sống văn nghệ, để ù xọe, ai cũng như ai, “xấu đều còn hơn tốt lỏi”, cho dễ chui lủi, và dễ sống.

Ngay cả thất nghiệp cũng có nhiều trình độ thất nghiệp. Thất nghiệp ở những nước công nghệ cao, là những công nhân đã được đào tạo tay nghề, khi bị thất nghiệp có thể vẫn ngồi đợi ngoài dây chuyền sản xuất, thấy ai bị đau ốm thì có thể vào thay thế. Tóm lại, đó là những người có “nghiệp” mà tạm thời “thất”. Nhưng thất nghiệp ở xứ ta, hầu hết là những người chưa qua đào tạo, chưa biết làm gì, nên chưa có cả “nghiệp” để mà “thất”.

Đó là thất nghiệp bàn về nội dung cũng như hình thức, cũng là bàn cái thực hiện bên trong và cái thể hiện ra ngoài. Nhìn một người cầm cuốc trong lao động đơn giản ta khả dĩ thể hiện ngay giống như anh ta. Nhưng nhìn một người cầm vô lăng ô tô, thì sự thể hiện không hề đơn giản chút nào, không thể cứ cầm vô lăng xoay qua xoay lại, vớ vẩn chạm phải chìa khoá khởi động, xe lao đi, toi mạng như không. Cũng vậy nhìn người ta cầm bút, thể hiện cầm lấy ngay cũng dễ, nhưng để thực hiện viết văn, làm thơ, hay phát minh những công trình thì thiên khó vạn nan, người cầm bút phải chất chứa thiên kinh vạn quyển trong đầu. Thế vẫn chưa đủ, người Pháp nói: “Cái đầu biết hành động quý giá hơn cái đầu chỉ đầy ắp chữ” (Mieux vaut une tête bien faire qu’une tête bien pleine).

Sự thể hiện và thực hiện khác nhau như hoa nhựa và hoa thật. Hoa nhựa có mọi thứ như hoa thật có và giống hệt mẽ bề ngoài, chỉ tội không có sức sống ở bên trong và hoa thật có sức sống, có hạt mầm ở trong, nó có thể lên mầm một cây hoa mới lớn gấp tỷ lần, cây ấy lại tiếp tục ra hạt mãi mãi không ngừng. Vậy thì nhìn nhà văn, nhà thơ (Các nhà khoa học nữa), thì thấy dù nổi tiếng đến mấy cũng chỉ viết được vài chục truyện ngắn, mấy tập thơ mỏng đến mức con kiến nằm vắt ngang gáy bìa không đủ chỗ, hay viết được một cuốn tiểu thuyết “một lần vắt kiệt thành bã”, còn các cây bút trẻ thì hầu như không có ai có được bóng cây toả lan sau tuổi ba mươi, khiến mọi người phải nghĩ đây là những măng non chặt sớm đòi đóng nhãn xuất khẩu nên không lớn thành tre được, hay là hạt giống đem đồ thành xôi – làm oản để ăn ngay nên không thể gieo hạt, hoặc những bông hoa chưa kịp nở đã tàn… Như vậy đủ thấy các cây bút ở ta phần đông mới chỉ viết ở mức thể hiện, mà chưa đạt đến tầm “thực hiện”.

Viết văn phải thực hiện những gì? Tri thức sống! Khát vọng sống! Thực tại sống! Lý tưởng sống! Nhân cách sống! Phẩm chất sống! Nhưng các nhà văn xứ ta hầu hết mới chỉ bày tỏ một ít hiện thực sống và ao ước sống. Ao ước chưa phải là khát vọng! Mà mới giống người thuyền chài lười biếng thả lưới lại nằm ao nước có con chim rụng cánh xuống thuyền mình, thế là chỉ cần nướng lên ăn. Có không ít nhà thơ, viết được vài bài thơ ngắn trong tầm trang giấy, mà đã ước ao biết đâu lúc nào trúng số độc đắc, giải Nobel sẽ rơi vào giữa những vần thơ tinh lọc của mình. Hay có nhà văn, viết được một cuốn sách, mà hàng năm đến kỳ xét giải Nobel lại cùng bầu bạn uống rượu chờ đợi biết đâu đó ban giám khảo đã bỏ phiếu cho ta. Thật là hy vọng hão huyền. Các giải thưởng lớn không bao giờ người ta chỉ bỏ phiếu cách cầu may, mà người ta phải xét duyệt quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn đó. Nhưng mới chỉ có một cuốn sách làm sao thấy được quá trình? Nhiều cây bút “thấp bé nhẹ cân” sở trường chơi đồ hàng thường biện hộ: “Hay cốt gì dài”.

Tại sao người ta không biết, không lớn sao thành đại dương. Người Việt vẫn nói “Vét nồi ba mươi cũng đầy niêu mốt” hay:

Sống lâu mới biết đêm dài
Ở lâu mới biết lòng người có nhân.

Trong một khoảnh khắc, trong vài vần thơ để làm một cú thăng hoa dễ lắm, nhưng mọi sự đồ sộ, vĩ đại ở đời đều được hình thành nhờ cấu trúc. Một phân tử ADN của sự sống thôi đã là một cấu trúc vô cùng phức tạp. Nhưng chớ có biện hộ, nhỏ như một phân tử còn sắp đặt kỳ diệu đó thôi, mà các phân tử ADN, sau khi đã tự sắp đặt mình, đã sắp đặt cả một vũ trụ sự sống bát ngát mênh mông.

Những điều lý giải trên không thể nói chơi. Mà là, chưa nói đến chúng ta chưa có những cây bút vĩ đại, chỉ cần đòi hỏi chúng ta có những cây bút chuyên nghiệp, nhà nghiên cứu chuyên nghiệp thôi, đã vô cùng khó rồi. Thậm chí là một sự kiện hi hữu đến mức gần như bất khả.

Người Việt nói: “Một nghề cho chín, hơn chín mười nghề”, hay “Sinh nghề tử nghiệp”, còn người Anh nói: “Đá lăn không lên rêu”. Sự nghiệp văn chương nghệ thuật hay khoa học là một sự nghiệp lớn giành cả đời hành hương chưa chắc đã đi trọn con đường của cá nhân vạch ra để tiệm cận cùng nhân loại, vậy mà lại không chuyên nghiệp, bạ chỗ nào tiện rẽ ngang chỗ đấy, vui đâu chầu đấy, thỉnh thoảng khi rỗi mới đi vào trục lộ của mình, thì sẽ thắng tiến được bao nhiều?

Bởi chính thế mà chúng ta mới chỉ có những nhà văn nghiệp dư, nhà thơ nghiệp dư, nhà khoa học nghiệp dư… Tất cả mới ở mức lo thể hiện cho giống người, mà chưa biết thực hiện để vận động chức năng đích thực cho cuộc đời sống thật.

Người Việt tự ngắm mình – Đầu voi đuôi chuột

21. Đầu voi đuôi chuột

“Đầu voi đuôi chuột” là câu nói lột tả rất mạnh mẽ cung cách làm ăn của người Việt, nghĩa là mở màn thì khởi sự công việc to như đầu voi, sau đó làm việc cứ thắt dần – thắt dần, bé dần – bé dần, thành ra cuối cùng bé như đuôi chuột.

Tại sao lại có hệ quả như vậy? Đây cũng là hệ quả tất yếu thôi, vì như chúng ta đã tìm hiểu người Việt sống rất yếu ớt trong việc suy lý và duy lý. Muốn làm bất cứ việc gì ở đời, thì bộ não phải sản sinh sự hướng đạo cho cơ thể, sau đó miệng phải ra mệnh lệnh, cuối cùng mới đến chân tay hành động. Như người Việt hiện đại có một câu tục ngữ: “Tư tưởng không thông vác bi đông không nổi”.

Nhưng tư tưởng cũng như chính kiến của người Việt nói chung là chưa có thói quen được đào luyện trở thành vạm vỡ, ngôn ngữ thì ấp úng thiếu mạch lạc “tháng ba cũng ừ tháng tư cũng gật”, vì thế hành động không có lý trí để minh định và gìn giữ chủ kiến, nên thành ra cứ làm kiểu “đầu to đít bé”, thậm chí làm qua loa đại khái, tồi tệ hơn là làm kiểu “trăm voi không được bát nước sáo”.

Về chuyện thiếu lý trí dẫn công việc từ to thành nhỏ, người Việt vẫn hay kể câu chuyện, đẽo cày giữa đường. Ông kia, mang khúc gỗ ra bên lề đường đẽo cày. Thế là người đi xuôi nhận xét một câu, vì không có chủ kiến ông liền đẽo theo cách họ bày; người đi ngược lại nói cách khác, vì không tự tin vào mình ông cũng liền đẽo theo ý họ. Rút cục ông cứ đẽo mãi, đẽo mãi, khúc gỗ nhỏ hơn cả một cái thìa. Thế là, ông đành đẽo nó thành một chiếc chìa vôi, chỉ to hơn chiếc tăm một tẹo, dùng cho các bà ngoáy vôi ăn trầu.

Cũng chuyện tự tin vào lý trí của mình, người phương Tây có chuyện. Chàng hoạ sĩ kia vẽ một ông tướng, và đem bày bán ở giữa chợ. Liền có một người đi qua bảo, đôi giầy không giống lắm. Chàng hoạ sĩ hỏi ra, mới biết người nhận xét đó làm nghề đóng giầy. Chàng liền cám ơn ông thợ đóng giầy rất thành tâm, và sau đó lấy bút vẽ sửa lại đôi giầy. Khi chàng hoạ sĩ đã vẽ lại xong đôi giầy, thì ông đóng giầy kia liền lên giọng nói, còn chỗ này chưa giống, chỗ kia vẫn sai. Chàng hoạ sĩ liền bảo với ông thợ giầy: “Thưa ông, ông đã đi quá xa đôi giầy của mình rồi đó”.

Đấy, khi có lý trí và vững chuyên môn thì người ta biết nghe đến đâu và làm đến đâu. So sánh thì thấy, do thiếu yếu tố duy lý trong mọi lĩnh vực của đời sống, người Việt thường làm các việc từ “đầu voi” thành đuôi chuột.

Khi nói người Việt còn yếu kém về lý trí, chúng ta chớ nên khoác lấy mặc cảm tự ái. Ngay nước Nhật rất giầu, rất tiên tiến về khoa học kia trước Đại chiến thế giới hai, vào thời “Minh Trị duy tân” (1852 – 1912), người Nhật cũng đã xác định, nước Nhật muốn phát triển hùng cường, thì điều quan trọng nhất phải phát triển sự duy lý và ý thức khoa học. Nghệ thuật bị đặt xuống hàng thứ yếu.

Người Việt tự ngắm mình – Tính khí thất thường: mai nắng – trưa mưa – chiều nồm

V.20. Tính khí thất thường: mai nắng – trưa mưa – chiều nồm

Lý trí bao giờ cũng tiến đến nguyên lý hành động cốt yếu của mỗi người, cũng như xã hội. Khi lý trí yếu, lại chỉ sống nhờ vào những cảm xúc nông nổi, thì hiển nhiên con người sẽ sống theo những phản xạ “dễ làm khó bỏ”, chúng thay đổi, và bồng bột. Người Việt có hàng loạt các câu tục ngữ, ca dao để diễn tả lối sống “được chăng hay chớ” này. Chúng ta vẫn biết, đời sống lý trí rất quan trọng vì nó quy định: đó là đời sống của ông chủ. Còn đời sống của cảm xúc tuỳ tiện “được chăng hay chớ” chỉ quy định trình độ sống còn ở mức bản năng – con sen thằng ở.

Người Việt nói: “Mai nắng, trưa mưa, chiều nồm”, là muốn nói khí hậu ở xứ ta phức tạp; sáng ra thì nắng, trưa thì mưa, chiều lại trở gió nồm, còn tối và đêm không biết gió gì. Nhưng câu nói trên cũng chỉ hạng người thay đổi như chong chóng, lúc thế này lúc thế khác. Lý trí không có mặt để ấn định cho mình một chủ kiến nhất định.

Từ sự thay đổi “thời tiết’ như vậy, người Việt cũng chỉ ra những lối sống nhỏ bé “Ăn xổi ở thì” như:

- “Gió chiều nào che chiều nấy”.

- “Nước đến chân mới nhảy”.

- “Vui đâu chầu đấy”.

- “Theo đóm ăn tàn”.

- “Giậu đổ bìm leo”.

- “Đắm đò giật mệt”.

Về mặt sinh học, chúng ta đều biết, những loài sinh vật thấp kém thì nhiệt độ cơ thể thay đổi theo nhiệt độ môi trường. Nhưng tạo hoá tạo ra con người là một sinh vật cao cấp ưu đẳng khác hẳn các sinh vật khác ở chỗ, nhiệt độ cơ thể của con người không thay đổi theo nhiệt độ của tự nhiên. Cũng vậy, con người biết sống có chính kiến, lập trường, và lựa chọn thì hơn hẳn con người sống vật vờ được chỗ nào hay chỗ nấy. Sống được chăng hay chớ là lối sống vất vưởng của kẻ hèn kém, tha phương cầu thực, miếng ăn của mình phụ thuộc vào việc người khác cho mình nhiều hay ít. Như người Việt cũng xác định, hạng người đó chỉ có thể “theo đóm ăn tàn”, “theo voi hít bã mía”.

Trái lại người làm chủ thực sự phải là: có trồng cây có hái quả, “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”. Triết gia Hegel cho rằng, con người sống xứng đáng thực thụ, phải là người: Mình vẫn là mình trong hoàn cảnh chống lại mình và hoàn cảnh càng bất lợi với mình thì càng chứng tỏ ý chí làm người kiên định của mình. Người Việt chẳng nói đó thôi:

Lửa thử vàng
Gian nan thử sức.

Người Việt tự ngắm mình – Nịnh trên, đạp dưới, đá ngang

V.19. Nịnh trên, đạp dưới, đá ngang

Người Việt có câu:

Lười hay cười nụ
Cả vú thích vuốt ve.

Tại sao, lười hay cười nụ? Vì cười để mọi người xí xoá cho mình. Chính vì thế mà người Việt còn nói: “Cười cầu tài”. Tài thức là tiền. Cười kiểu đó là cười vụ lợi, làm dối, làm ẩu, làm quấy quá sau đó cứ diễn những nụ cười cầu tài. Người ta cười cầu tài nhiều đến mức, nhiều nhà dân gian hiện đại đã dùng cụm từ “nhe răng thường trực”. Nghĩa là có những người cười và cười, mọi nơi mọi lúc, mong người ta xí xoá cho mình hết cái này đến cái khác. Người Việt cười cầu tài nhiều đến mức, các nhà ca dao hiện đại đã đặt vè.

Ăn nhanh, đi chậm, hay cười
Hay mua đồ cũ là người nào đây?

Cười cầu tài cũng là cười nịnh, ra vẻ ta thân tình lắm, ta cởi mở lắm với mọi người, và xin mọi người hãy nương tay hoặc ưu tiên cho công việc tồi hay sản phẩm xấu của ta.

Nhưng ở đời, đã nịnh với trên thì lại ra vẻ hoạnh họe với kẻ dưới. Nịnh với người trên để vụ lợi. Nạt nộ kẻ dưới để ra oai. Các nhà xã hội học phát hiện rằng, những đứa trẻ con chơi trò dạy và học, thì rất nhanh rã đám, bởi vì đứa nào cũng muốn được làm thầy giáo, cô giáo, ra tay bắt học sinh phải trả lời thế này thế nọ, làm cho đứa làm học sinh phải bị vâng lời đâm ra chóng chán. Như vậy cái bản năng quyền lực của con người đã nảy sinh một cách rất tự nhiên từ thời thơ ấu. Triết gia Aristote nói rằng: “Con người là một động vật xã hội”, và cũng còn có câu “Con người là một động vật chính trị”. Điều đó cũng thật hiển nhiên và lô gíc, vì chính trị đóng vai trò trọng tâm nhất của hệ thống xã hội. Như vậy quyền lực trong ý nghĩa chính đáng là động năng vận động tốt lành của một xã hội. Khi đó người có chức quyền cao là người được chọn trong sứ mệnh cao hơn người, để thực thi chức năng giúp hệ thống công quyền hoạt động. Đó vừa là giá trị vừa là văn hoá của quyền lực.

Đằng này, với không ít người, quyền lực chỉ đơn giản ăn trên ngồi chốc người khác, hưởng bổng lộc hơn, viết văn, làm thơ, vẽ, làm phim thì dễ được giải thưởng. Chúng ta hãy quay trở lại trò chơi “dạy và học” của trẻ con. Trò chơi rã đám, vì ở đó, một cách tự nhiên, những đứa trẻ đã thích ăn trên ngồi chốc các bạn, và cũng bởi đó ý nghĩa “vì người khác” bị hạ thấp. Một trò chơi để mọi người cùng vui, lại chỉ giành cho một vài đứa vui vì được ra lệnh, còn những đứa khác phải buồn khi thấy mình lủi thủi vâng lệnh bạn như con ở. (vì vậy trẻ con thường chuyển sang trò chơi bán hàng – mua hàng, cách đó bình đẳng hơn, vì thuận mua vừa bán).

Vì nếu ai cũng muốn ăn trên ngồi chốc, thì sẽ sinh cảnh cạnh tranh. Người Việt có câu ca dao hiện đại: “Căng da lưng chùng da bụng”. Đó là những kẻ thấy người mạnh hơn mình thì gập mình xuống nịnh bợ để được nâng đỡ tiến thân, vì thế mà da lưng cứ căng lên, còn da bụng thì gấp lại. Chưa hết, nhìn thấy kẻ yếu hơn mình thì đạp lên đầu mà đi. Còn những kẻ ngang mình, thì tìm cách phá ngang. Bởi thế mới có câu tục ngữ hiện đại chỉ lối cạnh tranh tiến thân là: “nịnh trên, đạp dưới, đá ngang”.

Về việc ích kỷ, đố kỵ, chèn ép, kéo kẻ ở trên xuống, không muốn cho ai hơn mình, người Việt có một câu chuyện tiếu lâm hiện đại rằng: Tổ chức cảnh sát quốc tế xây dựng một trung tâm tạm giam quốc tế, để bắt giữ tội phạm của các nước. Ông giám đốc ra lệnh cho các nhân viên rằng: nhà giam của tội phạm các nước cần làm tường và mái chắc chắn. Vì nếu không làm vậy, chúng sẽ công kênh trèo lên vai nhau, chuồn ra ngoài. Nhưng nhà giam cho các phạm nhân người Việt thì không cần mái, vì có đứa nào sắp leo lên khỏi tường thì sẽ bị chính đồng bọn của mình lôi xuống. Vì chúng không muốn cho ai hơn mình, theo cách sống đã hằn sâu trong óc: “Chết một đống còn hơn sống một mống”.

Câu chuyện của người Việt nghĩ ra tự giễu cợt chính thói ích kỷ của mình, rất đáng để chúng ta cùng nghĩ ngợi.

Người Việt tự ngắm mình – Ích kỷ, đố kỵ. trâu buộc ghét trâu ăn

V.18. Ích kỷ, đố kỵ. trâu buộc ghét trâu ăn

Trong gia đình, vì người trên ích kỷ chỉ tính cái lợi cho mình, nên con cháu chẳng còn cách nào khác là đem cái tính toán vụ lợi cho mình thi thố ngoài thiên hạ. Xưa kia người Trung Quốc có câu: “Kẻ chỉ tính lợi cho mình sẽ hại đến gia đình, kẻ vụ lợi cho nhà mình sẽ hại cho xóm giềng, kẻ vụ lợi cho xóm giềng sẽ hại đến xã tắc, kẻ vụ lợi cho xã tắc sẽ hại đến thiên hạ”.

Chúng ta đã biết, kết quả vụ lợi cho cá nhân mình, cho nhà mình, và cho làng mình, mà dẫn đến: “Phép vua thua lệ làng”. Người Việt vẫn nói: “ích kỷ hại nhân”. Vì sự vụ lợi cho mình mà hại đến người khác. Có thể nói nhìn đâu cũng thấy sự ích kỷ manh mún của người Việt.

Ngay ở trung tâm Hà Nội, tôi thường xuyên được chứng kiến cảnh thế này. Sau khi nghe xong buổi hoà nhạc cổ điển, những khán giả đổ ra bãi xe máy. Việc đầu tiên, hầu hết người nào người nấy khởi động nổ máy, rồi vội vàng lao ra cửa. Nhưng ai cũng làm vậy nên dồn tắc lại. Cả đám đông, nói chung thuộc giai tầng văn hoá cao nhất xã hội, những người đã yêu thích nhạc giao hưởng, thính phòng, vậy mà tất cả lại “tự giác” nổ máy, cam chịu ăn khói và nghe tiếng nổ giữa một bãi xe tắc nghẽn đông cứng lại. Có một điều đơn giản, thay vì nổ máy để người khác phải ăn khói và nghe tiếng nổ, tại sao chúng ta lại không chịu khó dắt xe qua cổng, để người khác không phải ăn khói của xe mình, cũng như mình không phải ăn khói của xe người khác? Câu trả lời có phải vì trình độ văn hoá của chúng ta còn khá thấp, và trình độ ích kỷ còn khá cao? Còn những việc khác, uống xong một lon bia, người ta quẳng nó ra giữa đường, như vậy rác của ta đã trở thành rác của xã hội. Hay quét nhà, vớ được con chuột chết, người ta cũng quẳng nó ra ngoài đường, ném ra đó để “cha chung không ai khóc”. Hiện nay, ở nhiều thành phố, đâu cũng thấy cảnh này, người ta xây nhà to, cao, nhưng chỉ trừ mặt tiền người ta làm rất đẹp, nhưng ba phía kia quét hắc ín để chống ẩm, và họ cứ bày cả ba mảng tường đen xì đó kệ cho hàng xóm và thiên hạ thưởng thức. Một hình ảnh vừa ích kỷ, vừa nghèo hèn, xây được cái nhà to đến vậy, mà còn nhất định chỉ quét sơn phía trước cho mình đi ra đi vào, mặc kệ phía còn lại. ích kỷ biểu hiện cao độ là “Sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi”, như nạn “đinh tặc” xảy ra mới đây chẳng hạn, có một số kẻ đã rải các loại đinh xuống đường, để phá lốp các xe máy đang chạy tốc độ cao, nhiều xe thủng lốp, mất tay lái gây tai nạn, mà mục đích kẻ rải đinh, chỉ định kiếm chút công ăn việc làm bằng công vá săm cắt cổ. Còn sự ích kỷ tắc trách lớn thì không thể lường hết hậu quả của nó. Như cầu chui Văn Thánh hai chẳng hạn, do bị ăn bớt vật liệu, công xây dựng, mà cầu mới xây xong đã rạn nứt xuống cấp, gây nguy hiểm cho khách qua lại cũng như cả một bộ phận lớn của dân cư xung quanh. Mới đây, còn có cả những chuyện, người ta bắc cả những cây cầu giá cả tỉ đồng qua những khúc sông không có đường đi, và chiếc cầu vừa to, vừa dài, vừa chắc đó, chẳng để làm gì ngoài việc nó lý giải cho một khoản tiền thụt két nào đó. Lợi cho mình – hại mặc người, là mục đích theo đuổi của rất nhiều người ích kỷ, như các hợp đồng mua máy bay cũ, hay thuốc tân dược hết hạn sử dụng, hoặc các hợp đồng lao động ép giá công rẻ mạt khác… Để kiếm tiền lời – chia đôi bỏ túi cả tỷ, còn mặc người đi máy bay mất an toàn, hay người uống thuốc dởm mắc tai nạn, cũng mặc kệ. Những việc trông thấy đã vậy, còn những việc khó trông thấy, còn xảy ra vô cùng khuất tất. Chẳng hạn một cỗ máy đắt tiền mua về đắp chiếu bỏ đấy, một hợp đồng nhiều tiền đã được thực thi, nhưng có một chi tiết máy, hay một chi tiết nào đó thuộc chức năng hoặc lý do không vận hành, thế là cả cỗ máy nằm mơ cũng không có ấy, trở thành một đống sắt nằm liệt vị.

Còn một sự ích kỷ đại trà hiện nay là quan hệ yêu đương trai gái. Thôi thì cảnh bê tha, nguyền rủa nhau xảy ra ở khắp nơi. Vì nhiều trai thanh gái lịch, sinh ra trong các gia đình, bố mẹ tính toán ích kỷ chỉ nghĩ lợi cho mình, nên bước ra đời họ cũng chỉ lo tính toán cho mình. Đặc biệt trong thời buổi kinh tế thị trường ngày nay, tính thực dụng phi nhân của nhiều người càng phát triển. Nạn trục lợi, trục lạc trong quan hệ khác giới hoành hành một bộ phận rất lớn của xã hội. Khiến nhân cánh tha hoá đến mức báo động. Chàng kia trục lạc nàng sau đó bỏ rơi nàng trong nhà y tế – đang lo nạo thai, rồi sau đó bị nàng nguyền rủa không tiếc một lời nào. Hay nàng nọ đưa chàng hoặc vài chàng vào trong ống ngắm của một máy tính nhẩm, trục hết các lợi ích của chàng, sau đó thải chàng vào trong sọt rác như chưa từng quen biết, khiến chàng phải rủa “đúng là đàn bà nan hoá”. Triết gia J.P Sartre có nói “Đam mê là trách nhiệm”. Vì đam mê giới tính giữa chàng với nàng là một mối liên kết con người sâu xa nhất, bởi thế nó cần phải được thực thi bằng một trách nhiệm nhân bản nặng nề và nặng tình nhất. Người Trung Quốc quan niệm: “Hạnh phúc” là muốn hưởng Phúc thì Phải tròn bổn phận. Như người Việt quan niệm:

Có vất vả mới thanh nhàn
Không dưng ai dễ cầm tàn che cho.

Không trồng cây sao đòi hái quả. Trong quan hệ yêu đương, cả tiền yêu đương là khi lựa chọn có thể có – có thể không và hậu yêu đương là khi chia tay, con người muốn hưởng lạc thú tình yêu, thì cần phải biết thực thi những bổn phận của mình, chớ để phải trở thành nạn nhân bị nguyền rủa của con tim.

Nạn đố kỵ ở ta, xảy ra vừa đại trà vừa mạnh mẽ, với nhiều hình thức. Có khi thấy con lợn hàng xóm lớn nhanh hơn lợn nhà mình cũng tức. Thấy hàng xóm xây nhà cũng tức. Hay thấy con cái người thành đạt cũng tức. Trước kia trong chiến tranh, ở địa phương nào cũng gặp cảnh, nhiều gia đình có giấy gọi đi học đại học, hoặc đi nước ngoài thì bị đường dây xã, thôn, xóm giữ lại; nhưng trái lại khi có giấy gọi nhập ngũ thì được đưa rất nhanh. Việc thẩm tra lý lịch cá nhân cũng vậy. Nếu điều tra để cháu đi bộ đội hay thanh niên xung phong thì nói chung “anh này tốt”, nhưng điều tra để đi học nước ngoài hay vào Đảng thì “anh này còn nhiều vấn đề lắm, hình như thế nọ, hình như thế kia”, người ta nói ra rất nhiều những thứ khẩu thiệt vô bằng. Tình trạng đố kỵ mạnh đến mức, ở nhiều miền quê, hay miền núi, chi bộ Đảng trong mấy chục năm không có nổi một Đảng viên mới nào, nếu có một vài Đảng viên trẻ tuổi thì số này đã thoát ly, đi bộ đội, hay công tác, vào Đảng ở đơn vị và cơ quan, chuyển sinh hoạt Đảng về quê. Tại sao có tình trạng đó? Vì mấy ông Đảng viên già không muốn chia quyền lợi lãnh đạo địa phương cùng những người trẻ tuổi xông xáo hơn, không muốn nhìn các Đảng viên trẻ ngồi cùng chiếu với mình, nên cùng tâm không phát triển Đảng vào giới trẻ.

Tình trạng “trâu buộc ghét trâu ăn” diễn ra tràn lan khắp nơi, đó là thứ tâm lý tiểu nông cỏn con, manh mún gây cản trở rất nhiều cho sự phát triển của toàn xã hội. Tình trạng này càng trở nên gay gắt hơn, khi tính chuyên môn ở ta còn chưa được nâng cao, nền nông nghiệp chưa phân hoá thành các nghề đa dạng như thủ công nghiệp, hay công nghiệp hoá. ở đầu cuốn sách chúng ta đã bàn về tính “sở trường” và chuyên môn hoá. Một cô hàng thịt bán hàng cạnh một cô hàng rau, cạnh một cô hàng muối, cạnh một cô hàng xén, cạnh một cô bán hàng giải khát, thì sự cạnh tranh gần như không có. Vì lẽ người ta vừa muốn mua thịt, vừa muốn mua rau, mua muối, và uống nước. Nhưng nếu các cô không biết mở quán theo sở trường của mình, thấy hàng hoa có lãi chẳng hạn, liền đổ xô vào buôn bán hoa, sẽ dẫn đến cạnh tranh, đố kỵ khủng khiếp.

Lâu nay, và bây giờ vẫn còn khá phổ biến công thức tiến thân của một con người là: học xong kiếm một việc làm trong hệ thống nhà nước, người lo trau dồi chuyên môn thì ít, người lo leo ghế thì nhiều, kết quả gây quá tải trong các cơ quan công quyền, làm cho sự cạnh tranh đố kỵ thiếu lành mạnh càng ngày trông giống con đường một mất – một còn, quá hẹp, chỉ lo tiến thân bằng sở đoản hơn là thực thi những chức năng có sở trường.

Người Việt tự ngắm mình – Gia trưởng độc đoán

V.17. Gia trưởng độc đoán

Người Việt nói: “Sợ người ở phải, hãi người cho ăn” Người ở phải là người sống đúng đắn, hiển nhiên đã có sức mạnh của sự thật và công lý. Người đó mạnh đến mức có thể làm kinh hãi cả đám gian thần và nịnh thần dù đông nhung nhúc. Chính vậy một triết gia đã nói: “Mình tôi với chân lý là đa số”. Điều đó có nghĩa là, bất cứ cá nhân nào sống theo lẽ phải và chân lý thì họ có sức mạnh còn lớn hơn cả số đông sai trái. Chính vì điều này mà Bao Thanh Thiên nổi tiếng thanh liêm – công chính, đã đúc kết nhiều vụ án của ông qua một câu nói: “Đạo người không bằng đạo trời”. Đạo trời, chính là công lý của vũ trụ kết hợp với nhân sinh trong các nguyên lý của sự thật. Trong khi đó, đạo người ỷ đông, ỷ mạnh, có nhằm nhò gì. Người Trung Quốc cũng chứng tỏ sức mạnh của công lý mạnh như lưới trời: “Thiên vòng khơi khơi sơ nhi bất lậu” (lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt).

Vì sống thiếu chính đáng, lẽ phải, và công lý, con người thường phải tụ bạ bấu víu đan kết theo lối bè lũ vào nhau. Nhưng sự đan kết đó rất yếu, vì khởi sự người ta cần vụ lợi nên cấu kết với nhau, nên sau khi đã cấu kết người ta vẫn tiếp tục tính toán vụ lợi cho mình. Kết quả, sự móc nối vụ lợi lẫn nhau sẽ mục ruỗng và tan rã. Nếu còn chỉ là hình thức cấu kết hờ, cực chẳng đã. Chúng ta hãy bàn vào gia đình hạt nhân, cha mẹ, vợ chồng, con cái, tưởng là góc trú ẩn nhiều yêu thương nhất, nhưng ở đó nó cũng khơi ra những tính toán ích kỷ đến cay nghiệt. Nơi đó còn thế, nữa là các kiểu cấu kết, tụ bạ hờ.

Gần đây, xứ ta, nổi lên có nhiều vụ cha giết con, con giết cha rất đau lòng. Còn các vụ cha mẹ bán con gái lấy một chút tiền thì đếm khôn kể. Chẳng hạn, có hai chị em gái mới qua tuổi vị thành niên, bị mẹ bán sang Cam-pu-chia, mới được vài năm phải phục vụ thú vui thân xác cho đàn ông để kiếm sống, hai chị em đã thân tàn ma dại, bị công an bắt, rồi được thả về quê. Về đến quê nhà, cái mà hai chị em này sợ nhất là phải nhìn thấy mẹ mình, kẻ đã đẩy hai chị em vào con đường địa ngục.

Đấy chỉ là sơ sơ nêu lên tính sự kiện. Nhưng cái ích kỷ của gia đình người Việt là một căn bệnh nhức nhối, bị di hậu trong cả ngàn năm, theo tinh thần xã hội và giáo dục, cũng như lề luật. Mở đầu, thời phong kiến đã bắt người ta phải nhất nhất tuân theo:

“Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung,
Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”.

Nghĩa là: Vua xử bề tôi phải chết, nếu không chết là bất trung. Cha xử con chết nếu không chết là bất hiếu. Thôi làm vua một nước xử thần chết là phải chết, ta chưa cần bàn. Đằng này trong gia đình, là cha thôi đã toàn quyền bắt con chết là phải chết.

Chưa hết, tất cả quyền định đoạt sống chết đó được trao cho tất cả những ai sống ở trên, như cha, như anh. Sau cha là đến anh cũng oai không kém “Quyền huynh thế phụ”. Và làm em thì phải nhịn nhục “làm em ăn thèm vác nặng”. Làm thân con trai đã thế, làm thân con gái thì nhục trăm bề, phải theo Tam Tòng: “Tại gia tòng phu, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, nghĩa là ở nhà theo cha, xuất giá theo chồng, chồng chết theo con. Vì quyền lực áp đặt từ trên xuống dưới, từ nam xuống nữ đến thế, nên mới nảy sinh tình trạng độc đoán, gia trưởng của người cha với con cái, và người mẹ đối với con gái con dâu. Nào là:

Cha nói oan
Quan nói hiếp
Chồng có nghiệp nói thừa

Hoặc là:

Muốn nói ngoa làm cha mà nói
Muốn nói không làm chồng mà nói.

Còn phía phụ nữ thì: “Giặc bên ngô không bằng bà cô bên chồng”.

Tình trạng độc đoán giá trưởng còn lộng hành cho đến ngày nay. Có rất nhiều đàn ông đã bỏ áo the khăn xếp, nhưng hoàn toàn nghĩ, sống, và hành xử như những thủ lĩnh phong kiến mặc đồ tây. Có không ít cha mẹ vẫn tìm cách “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, áp đặt chuyện hôn nhân, làm xảy ra khá nhiều các vụ quyên sinh của đôi tình nhân “chúng ta không lấy được nhau thì thà chết còn hơn”. Mà lý do, để cha mẹ ép gả, nhiều khi chỉ là những tham lam, tính toán vị kỷ vơ vào cho mình hết sức vặt vãnh tầm thường, như xưa nay người việt vẫn chỉ rao:

Mẹ tôi tham thúng xôi rền
Tham con lợn béo, tham tiền cảnh thưng
Tôi đã bảo mẹ rằng đừng
Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bưng ngay vào.
Bây giờ chồng thấp vợ cao
Như đôi đưa lệch so sao cho bằng

Hay là:

Cha mẹ đòi ăn cá thu
Gả con xuống biển mù mù tăm tăm

Để tham một cuộc hôn nhân cho mình, chứ không phải cho con:

Có con gái gả chồng gần
Có bát canh cần nó cũng đem cho
Hoài con mà gả chồng xa
Một là mất giỗ, hai là mất con

Xưa kia, người ta đẻ nhiều, thôi thì cứ gả con gái cho ai cũng được, miễn là nhà giầu để kiếm được tiền sính lễ nhiều. Giờ đây, mỗi gia đình chỉ được phép đẻ hai con, nên nhiều cha mẹ không chỉ tham giầu, mà còn tham con lấy chồng gần, để thỉnh thoảng chạy qua chạy lại làm “ô – sin”(nhân vật làm người ở của phim Nhật) cho bố mẹ. Nhiều gia đình, con cái đã tốt nghiệp đại học, mà không để con có cả cơ hội cư xử như người có học. Cha cấm cửa con cái. Ra chào khách hộ con, khi tiễn cũng tiễn hộ con. Rồi bản thân vừa làm thuyết khách vừa làm kế “phản gián” cả hai chiều. Với chàng trai, nếu không ưng, ông ta nói: “con tôi nó chẳng ưng anh đâu!” Rồi với con gái ông bố bảo: “Anh ấy chẳng coi con ra gì đâu! Thiết gì mà nghĩ đến loại đàn ông đó”. Nếu sự thể đôi uyên ương càng xích lại gần nhau, thì cha mẹ lại càng thao diễn những trò gian dối, nói này, nói nọ, đâm ra chầy của để phá cho bằng được.

Chỉ vì cha mẹ nói ngang
Làm cho đũa ngọc mâm vàng xa nhau.

Ngăn cấm con cái đã đành, nhiều khi lại đơm lời đặt tiếng cho con cái, khiến cho người ngoài đánh giá con mình không có cả lương tâm. Thật là quá ích kỷ. ích kỷ thứ nhất là không cho con cái được sống một cách đường hoàng ngay trong nhà mình, ra vào tiếp khách không được phép, khép nép như thứ con ở. ích kỷ thứ hai là sẵn sàng bôi nhọ tâm hồn con để làm lợi cho mình. Một lần, tôi đi qua một quán nước nằm đầu ngõ hẻm. Thấy hai cha con nhà kia chửi nhau:

- Cha thì bê tha, rượu chè, vạ vật lè nhè chủi: “Tao đẻ mày ra, mày không được hỗn”.

- Đứa con là thứ lang thang, vật vờ vì thiếu bàn tay quan tâm của cha mẹ, trả lời như đã suy nghĩ từ lâu: “Tôi cũng cóc cần là con ông. Ông xem, người khác có bố thì được trông cậy, được thơm lây, còn tôi, có bố là một nỗi nhục. Tôi đếch cần nỗi nhục ấy”.

Thế đấy, vậy mà, có nhiều cha mẹ khi không bắt ép dược con cái dựng vợ gả chồng theo ý mình thì liền bảo: “Tao từ mày, coi như tao chưa đẻ ra mày”. Thật là ấm ớ và vớ vẩn. Có một sự thật lớn nhất là cha mẹ đã lấy nhau. Mẹ đã mang thai con chín tháng mười ngày, đã đẻ con ra, sự thật đó được cả vũ trụ chứng nhận, vậy mà họ sẵn sàng từ chối sự thật đó, thử hỏi có gì liêm sỉ mà họ không dám làm?

Cũng vớ vẩn không kém, nhiều bậc cha mẹ đụng một tí là đuổi con ra khỏi nhà. Theo pháp luật, thì nhà đó có cả phần của đứa con trong đó, tại sao mình lại có quyền đuổi nó. Đặc biệt với các gia đình được cấp nhà, cho đôi vợ chồng có giấy hôn thú, rồi cho con ngay từ lúc đẻ ra – làm giấy khai sinh, thì cha mẹ chúng làm gì có quyền đuổi con ra khỏi nhà, khi mà chính con họ cũng có quyền dự phần trong ngôi nhà đó.

Khi cha mẹ ức hiếp quyền sống của con cái, thậm chí coi con cái như phương tiện sống cho mình, cũng là các triết gia, đặc biệt là triết gia Kant và Hegel, gọi đó là hình thức bị coi như nô lệ, thì những đứa con không dám phản đối lại, nhưng gây ra những chống đối ngầm, hay bí mật tích luỹ ích kỷ cho riêng mình. Lịch sử của Trung Quốc và Việt Nam, đầy rẫy các chuyện trong cung đình, anh em tróc nã, giết chóc, giành giật quyền hành lẫn nhau. Còn ở thứ dân thì các bi kịch xảy ra, tuy không khốc liệt bằng, nhưng cũng đầy những tai ương “nồi da xáo thịt”.

Sự ích kỷ trong gia đình người Việt biểu lộ một cách rõ nhất, khó mà chối cãi qua cách sống: “Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào”. Đó cũng là lối sống thích hợp và tương ứng với kiểu “Ăn xổi ở thì”, “Nước đến chân mới nhảy”, hay sống ngày nào qua ngày đó. ở phương Tây, người ta có nhiều chai rượu cất đến vài trăm năm, nho từ đời ông ủ đến đời chút – chít, mới đóng vào chai. Hay có những khúc gỗ làm đàn mua rất đắt tiền, lại ngâm nước qua mấy đời, từ ông, qua cha, đến cháu, rồi chít mới đem ra làm đàn. Hay trong rất nhiều ngành sản xuất khác, hoặc trong việc để lại tài sản cho con cái, người phương Tây thường có cách đầu tư lâu dài cho các thế hệ sau. Chẳng hạn, khách du lịch thăm Mát – xcơ – va, có những đường phố ở trung tâm, xưa kia chỉ làm cho xe ngựa đi, vào lúc mật độ dân số còn thưa thớt, vậy mà những lớp con cháu hiện đại của họ giờ đây vẫn thấy rất thênh thang. Đúng là đời ông, đời cha làm, cho con cháu không phải làm lại nữa. Trái lại đường xá, nhà cửa ở xứ ta mới làm vài năm đã phải cơi nới, đập đi xây lại để phù hợp với chức năng mới. Thật đúng là, không những lớp con cháu không được hưởng lộc của cha ông, mà còn “đời cha ăn ốc đời con đổ vỏ”.

Cách sống ích kỷ của ông cha, mới kiếm được vài xu, đã tìm cách lấy vợ bé, mua rượu về chén chú chén anh, mặc kệ đời con “đời cua cua máy đời cáy cáy đào”, đã dẫn đến sự ích kỷ không kém tàn nhẫn của lớp con em. Thời hiện đại, không ít những người nghĩ rằng: “cha mẹ già chỉ là thứ phân bón cho đời con”. Nghĩ mà rùng mình!

Người Việt tự ngắm mình – Một trăm cái lý không bằng một tý cái tình

V.16. Một trăm cái lý không bằng một tý cái tình

Chúng ta đã bàn, lý trí và ngôn ngữ tương tác lẫn nhau. Ngôn ngữ phát triển, lý trí mới phát triển. Và ngược lại, lý trí phát triển, trí tuệ mới dùng lời để biểu đạt mọi chức năng của nó. Xưa nay, lời là kinh sách, là giáo luật, rồi là hiến pháp, pháp luật cũng như quy tắc ứng xử của mọi quốc gia và sắc tộc. Lời là Công lý

Vì không dùng lời để tiến đến lý trí và công lý, nặng về cãi vã hoà cả làng, không minh định nổi chẳng ai đúng, cũng chẳng ai sai, không có công lý làm chỗ tựa vững mạnh cho mình, nên người Việt thiên về co cụm, bấu víu, và đan kết trong tình cảm. Mở màn người ta xác định vị trí bất khả xâm phạm của gia tộc như “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Rồi sau đến đơn vị quần tụ xóm làng “Bán anh em xa mua láng giềng gần”. Và sau đó đề cao cái làng của mình lên trên hết nào “Tình làng nghĩa xóm”, nào quanh quẩn gần nhà “xểnh nhà ra thất nghiệp”, rồi

Ta về ta tắm ao ta
Dù trong hay đục ao nhà vẫn hơn
Hay là:

Lấy chồng khó giữa làng
Hơn lấy chồng sang thiên hạ

Và rồi tuyên bố thẳng thừng, dù thế nào, làng ta phải là oai nhất về mọi lẽ: “phép vua thua lệ làng”.

Như vậy, về mặt khoa học nhân chủng, cũng như nhân bản người Việt còn ở trình độ khá âu trĩ. Về mặt khoa học chúng ta biết, càng dựng vợ gả chồng trong những quan hệ gần gũi nhau như trong một làng, thì càng đẻ ra những đứa con còi cọc, ốm yếu, thiển năng. Thiết nghĩ đó cũng là một lý do khiến giống người Việt đã bé lại càng bé. Trái với cách sống ở Việt Nam, người ấn Độ chẳng hạn, trong nhiều làng, họ cấm trai trong làng được bén mảng đến gái cùng làng dù có yêu thầm nhớ trộm thế nào, trai gái cùng làng cũng không được lấy nhau. Mà gái làng ta giành cho trai làng khác. Và trai làng ta phải ra thiên hạ mà kiếm vợ. Như vậy, những đứa con được ra đời từ gien bố ở các xa gien mẹ, nên to lớn mạnh khoẻ.

Tính co cụm, móc nối, cách hẩu là một căn bệnh rất nặng của người Việt, thể hiện ra ở địa phương nào cũng trầm trọng, nó vừa làm phân tán vừa làm suy yếu tính hiệp nhất của quốc gia. Ngay cả thánh thần cũng bị họ chia ra của làng này hay của làng kia, như:

Chuông làng nào làng ấy đánh
Thánh làng nào làng ấy thờ.

Mới đây, còn xảy ra cả vụ tranh thờ các thánh để vụ lợi ngay ở địa bàn giáp ranh hai tỉnh Hà Tây và Hà Nam. ở bên Hà Tây có đền Đức Thánh cả. Bên Hà Nam, thấy bên đó có người đi lễ rầm rập, buôn vàng, bán mã, bán đồ cúng lễ rất phát đạt, liền rào dậu không cho khách thập phương đi qua địa phận làng mình. Sau đó nhái lại làm một đền Thánh cả giống bản nguyên như đúc để lôi kéo khách thập phương đến cúng lễ, mong kiếm lời (đây là tin được đưa trên truyền hình tháng 3/2003).

Trong mọi việc vì không giải quyết theo lý mà chỉ lụy tình, người Việt thường có thói quen : người càng thân ta thì càng đúng hơn. Thậm chí có việc người nhà ta, người làng ta, người cơ quan ta sai lè lè, không còn cách nào khác, người đứng ra bênh vực bảo: “anh này cũng đúng, anh kia cũng chẳng sai”. Vì thế mọi người mới có kiểu xưng hùng xưng bá địa phương: “Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng”. ở phương Tây có một cầu thủ vấp phải một cầu thủ của đối phương. Trọng tài phạt thẻ đỏ cầu thủ của đối phương, và cho đội của anh này một quả phạt đền. Lẽ ra anh này phải rất mừng cho mình cũng như đội nhà, được ăn không quả phạt đền của đối phương, nhưng cầu thủ này lại ra sức nói hộ cho bên đối phương – là họ không phạm lỗi. Sau sự kiện này, báo chí đăng tin rầm rộ khen ngợi tấm lòng yêu lẽ phải – ngay thẳng của cầu thủ nọ. Một cầu thủ, trình độ văn hoá có hạn mà đã có cư xử cao cả đến vậy, là cách mà chúng ta nên suy nghĩ.

Nhưng khi đã cậy gần nhà để có người bênh, thì những con người đó đi sang làng khác, địa phương khác lại mất thiêng, không có ai bảo vệ nữa, cho nên dù có đúng – có phải cũng trở thành yếu đuối. Đấy, cái kiểu “công lý người làng” hay “công lý tình cảm” yếu ớt đến vậy, ra khỏi làng, là bị phụ thuộc ngay “công lý của làng khác”.

Chưa hết, sự cấu kết tình cảm sẽ trở nên hết sức yếu đuối, khi người ta tập trung lại để ỷ thế chiếm ưu thế so với người khác, nhưng ngay trong nhóm sẽ xảy ra, ai cao nhất, ai thấp nhất, ai được làm ông chủ – ai phải hầu hạ, ai được lợi và ai bị thiệt? Người ta không minh định nổi vì không có công lý. Thế là người ta đành giở võ vị kỷ, ức hiếp, thủ thế lẫn nhau. Để phản ánh tình trạng này, người Việt có câu: “Chung nhau thì giầu, chia nhau thì khó”. Và chính lúc chia phần mới là cái lúc “cùng dục vọng thì tranh giành, cắn xé, lấn lướt nhau”.

Nhìn vào đời sống, lúc nào cũng có thể thấy ngay tính dễ liên kết dễ xé lẻ của người Việt. Chúng ta vẫn gặp, nhiều người chỉ cần mua một chiếc kẹo, hay bơm một lốp xe, người ta đã xưng hô ngọt xớt “mẹ cho con cái kẹo” hay “bố xem cho con lốp xe”… Chưa quen mà người ta đã xưng hô quá thân mật để làm gì? Để mong người khác có thể lấy rẻ cho mình vài hào, vài giá. Gặp những cảnh đó, có ông già liền nói thẳng “tôi có đẻ ra anh đâu mà là bố anh?”… Ông già đấy cũng khôn, vì ông biết được cái thân tình dễ có thì cũng dễ bị hất bỏ. Có anh vừa câu trước còn gọi “bố già bán cho con cái này, cái kia”, được lúc sau đã chửi “đ. mẹ thằng già”.

Con người có thân thì phải có sơ, có quen thì có lạ. Từ lạ đến quen phải có quá trình. Chưa quen mà hạ giọng thân tình như ruột thịt là cánh trục lợi. Chúng ta vẫn biết, như loài cầm thú thôi, con chó muốn trông nhà tốt, thì không phải bạ ai cũng làm quen. Vì kẻ trộm mới lần đầu muốn làm quen thì trước hết quẳng thức ăn cho chó (có khi đánh bả), sau đó nhổ nước miếng cho chó liếm coi như đưa ra “thông điệp mùi”, để tối tao có quay lại đào tường khoét ngạch ngươi đã quen hơi bén tiếng rồi thì đừng có sủa. Như vậy có lạ – có quen, trước lạ sau quen là một quy trình rất tự nhiên. Con người chớ nên muốn trục lợi mà đòi vượt tắt qua chặng này, mong lấy cái tình xoa đi cái lý. Cũng còn những kiểu xưng xưng mọc mọc khác chẳng hạn, đến nhờ hay mua của người ta cái gì liền dở ngay võ tình cảm đã rồi, như: “Cháu biết mà, bác nỡ gì cư xử xa cách với cháu, bác coi cháu như người nhà ấy mà, bác bán cho cháu cái xe này khác gì nhượng lại cho con, cho cháu…” Cứ thế màn diễn văn này cứ lặp đi lặp lại cho đến khi nào người bán phải bán rẻ mới thôi.

Người Việt tự ngắm mình – Được ăn, được nói, được gói mang về

V.15. Được ăn, được nói, được gói mang về

Chúng ta, đã bàn khá dài về lời ăn tiếng nói của người Việt. Điều này rất hệ trọng, vì ngôn ngữ là biểu hiện của trí tuệ – cũng là lương tri, và là nhân cách của con người. Người Việt ví:

Người thanh tiếng nói cũng thanh
Chuông kêu sẽ đánh bên thành cũng kêu.

Hay cũng còn nói:

Chuông khánh còn chẳng ăn ai
Nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bụi tre.

Chuông kêu ngân nga, vì được làm từ phẩm chất bằng kim loại quý, như đồng, có thể pha thêm vàng hay bạc. Như vậy, tiếng chuông đã thể hiện từ trong ra ngoài, kim loại tốt thì tiếng cũng hay. Con người cũng vậy, một triết gia có nói, “Ngôn ngữ là thế giới của một con người, thế giới của anh ta thế nào thì ngôn ngữ thế ấy”. Một nhà khoa học chẳng hạn, ngôn ngữ nhất khoát phải có những từ thuộc khoa học chuyên ngành, một nhạc sĩ thì phải có lời đựng nhạc, một giáo sĩ phải có lời thuộc về tôn giáo, một con buôn thì phải sặc mùi tiền. Để đánh giá một con người, người Trung Quốc cũng coi âm thanh là quan trọng nhất qua câu: “Nhất thanh, Nhị sắc, Tam hình”. Tướng mạo con người chỉ là thứ yếu. Sắc diện như mầu da cũng là thứ yếu. Chỉ có âm thanh là cái biểu đạt từ trong ra ngoài sẽ là chính xác nhất. Người quảng đại không thể có ngôn ngữ cay độc, người nói láu táu không thể có tư duy sâu xa chững chạc.

Lời nói phản ánh nhân phẩm của con người, nên người đời mới khen ngợi những lời nói của người biết trọng nghĩa là “nói như dao chém đá”, “nói như đinh đóng cột”. Người Trung Hoa cũng cho rằng mỗi lời nói có nhân cách thì phải hệ trọng “một lời nói nặng tựa chín đỉnh”. Và lời nói không thể bừa bãi được nếu không sẽ chẳng có cách nào vớt lại danh dự của con người: “Nhất ngôn xuất ký, tứ mã truy nan” (Một lời nói ra, bốn ngựa khó đuổi). Cùng một cách nghĩ, lời nói là hệ trọng mà người Việt bảo: “Sẩy chân còn hơn sẩy miệng”. Và

Trăm năm bia đã thì mòn
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Người phương Tây quan niệm về ngôn ngữ rất trực tiếp, cụ thể, và mạnh mẽ rằng: “Ngà voi không thể mọc từ miệng chó, lời khôn ngoan không xứng miệng kẻ hèn”. Như vậy, họ thẳng thắn chỉ ra, ngôn ngữ là chính con người. Ngôn ngữ cao trọng thì người cao trọng. Ngôn ngữ hèn hạ, ấp úng thì người cũng hèn hạ vớ vẩn.

Trong những trang trước chúng ta đã bàn về nhược thiểu của lý trí, cũng như sự tính toán dùng lời để “mồm miệng đỡ chân tay” hơn là để tư duy, nên ngôn ngữ của nhiều người Việt rất kém (đặc biệt, chúng ta hãy quan sát phóng viên truyền hình lẫn những người được phỏng vấn, họ thường hay nói vấp và ấp úng). Giờ chúng ta hãy bàn trực tiếp đến cách người Việt dùng lời nói để vụ lợi “được ăn, dược nói, được gói mang về”.

Ăn cũng cho miệng! Nói cũng cho miệng! và gói mang về cũng là để giành cho miệng! Có thể nói sinh hoạt cỗ bàn là sinh hoạt quan trọng nhất của người Việt. Dù rước thánh này, hay thánh khác, tiết mục tối hậu quan trọng nhất là hạ thủ lợn, hạ gà, hạ xôi oản xuống để chia ra các mâm. Lễ hội này quan trọng cả về thực phẩm lẫn tâm hồn. Nhưng như câu nói trên chỉ ra, tất cả sự thể hiện trọng đại của một bữa tiệc là qui về mồm.

“Được ăn, được gói mang về” thì dễ hiểu rồi. Nhưng cái đáng bàn là được nói. Người Việt khi đến các nơi gặp gỡ, hội họp, thì muốn dùng ngôn ngữ khoe mình hơn là trình bày ý tưởng. Vả lại trong câu “được ăn, được nói, được gói mang về”, có nghĩa, ai cũng được phần ăn – không sợ mất, ai cũng được phần nói – không sợ thiệt, và ai cũng được gói đem về. Như vậy, ngay cả khi nói, người Việt cũng coi đó là một quyền lợi để chia chác. Có nhiều người đến bữa ăn, sợ mất phần nói, nên kể hết chuyện nhà, chuyện vợ, chuyện con. Họ có thể nói cả mấy giờ đồng hồ, về con họ thích kẹo gì, mặc mầu nào. Khoe khéo khoe khôn cho mình chưa hết, lại khoe khôn cho cả con mình còn chưa kịp lớn, thật hết cửa đề người khác nói. Bởi lẽ trẻ em dù có giỏi thế nào cũng chưa thể là người thành đạt, như người Việt bảo:

Còn hàn vi biết ai hay dở
Trải phong trần mới rõ khá hèn.

Nên khi nghe người đàn ông kể về con mình, người khác cực chẳng đã phải nghe, chẳng lẽ chen nói vào lại mang tiếng đố kỵ với cả trẻ con. Kiểu nói không đối thoại, tràng giang đại hải một cách cố tình, là lối “cướp diễn đàn” của nhiều người. Thôi thì cứ nói chuyện tằm tăm bông bống gì cũng được, miễn là cứ nói tràn cung mây, không cho ai nói xen vào, kẻo họ lại khoe khéo khoe khôn hơn cả mình, hoặc lộ ra mình là người dốt.

Nói chuyện, lấy lời để lấp lời, lấy những thông tin vụn vặt để che phủ lên khát vọng của tri thức, thì làm sao mà trí tuệ lớn lên được. Cho dù con ta có giỏi, nhưng cháu vẫn còn bé, cháu làm sao có thể sống hộ ta những vấn đề đòi minh giải và hiểu biết. Chúng ta thử hình dung, một người học xong đại học, sau đó mấy chục năm, đi đâu anh ta cũng thao thao bất tuyệt về những lời vô thưởng vô phạt, thì trí tuệ có lớn lên không? Suy rộng ra, cái lối không dùng lời để tư duy, mà chỉ nói thao thao “cả vú lấp miệng em”, đã làm cho trí tuệ của dân tộc ta phát triển đến mức nào? Chúng ta hãy nhìn xem, có phải cả 1500 năm nay, từ khi trí giả Việt Nam nho nhe làm thơ Đường, cho đến nay chỉ có mỗi một tiểu thuyết lịch sử ra hồn là “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” của Ngô Thì Chí, còn lại là toàn thơ là thơ. Mà hầu hết chỉ gồm những bài ngăn ngắn trong vòng một trang giấy bày tỏ những cảm xúc tủn mủn đời thường. Và trong đó chỉ có một nhà phê bình thơ – nghĩa là người phát triển tư duy luận lý trong thơ là Hoài Thanh xuất hiện. Than ôi, cả nghìn, cả vạn, thậm chí ngót triệu nhà thơ, mà chỉ thấy có một con người nhìn văn học bằng con mắt của tư duy. Điều đó có nói lên trình độ tiến bộ về nhận thức của chúng ta rất thấp, thậm chí dường như dậm chân tại chỗ!

Tại sao có tình trạng đó? Ngôn ngữ là những hạt ngọc của tâm hồn, mà nó lại được dùng như một món trang sức ngụy tín, vô bổ, vô thưởng – vô phạt, vô vị, thì làm sao có thể giúp lý trí tiến bộ! Có một nhà tư tưởng nói: “Kẻ man trá về ngôn ngữ sẽ dẫn đến tàn tật về tri thức, méo mó về nhân cách”. Khi dùng lời chỉ để nói những câu chuyện sáo rỗng, thì một con người khó mà trưởng thành, anh ta sẽ mãi mãi chỉ là một đứa trẻ vừa bẻn mép vừa to xác. Và khi càng nói không có nội dung thì càng hoang mang. Càng hoang mang sợ một lời của người khác nặng tựa chính đỉnh sẽ nhấn chìm những lời bọt bèo của mình, thì lại càng nói, để khoả lấp tất cả quỹ thời gian. Đó cũng là một hình ảnh lớn của văn học Việt. Một ngành dù còn rất bấy – rất yếu nhưng cũng đang đóng vai trò rất lớn trong đời sống nhân văn của dân tộc.

« Bài viết cũ hơn

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.