THAM NHŨNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Nghiên Cứu Kinh Tế
Tháng 4 – 1999

THAM NHŨNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Trần Hữu Dũng[1]

TÓM TẮT: Mục đích của bài này là để phân tích những quan hệ giữa tham nhũng và tăng trưởng kinh tế, chú trọng đặc biệt đến trường hợp các quốc gia cần phát triển và đang chuyển đổi như Việt Nam. Trước tiên, nó lược duyệt những hậu quả kinh tế tiêu cực (và vài hậu quả tích cực) của tham nhũng. Sau đó, nó sẽ đưa ra một số biện pháp chống tham nhũng trên ba bình diện: giảm động lực tham nhũng, giảm cơ hội tham nhũng, và giảm lợi lộc do tham nhũng. Bài này cũng phân tích mối liên hệ giữa tham nhũng và vài vấn đề kinh tế khác.

ABSTRACT: This paper presents an analysis of the relationships between corruption and economic growth, with special attention to the case of a developing country in transition such as Vietnam. First, it examines the deleterious (and some allegedly beneficial) effects of corruption. Next, it suggests various measures to fight corruption on three fronts: weakening the motives to corrupt, reducing the opportunities to corrupt, and lowering the rewards of corruption. The paper also discusses major links between corruption and other economic goals.

Tham nhũng là một tệ nạn trầm trọng ở nhiều quốc gia kém mở mang (và một số quốc gia đã mở mang) trong đó có Việt Nam. Tham nhũng xúc phạm đạo đức, lũng đoạn xã hội, khơi dậy những nghi vấn nghiêm khắc về thực chất của chế độ chính trị, đó là những sự kiện ai cũng biết và đã được bàn cãi khá nhiều. Trong thời gian gần đây, một số tổ chức quốc tế (Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, Ngân Hàng Thế Giới, Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Châu Âu …) cũng quan tâm đặc biệt đến tệ nạn này, coi nó là một nhân tố quyết định trong chính sách của họ đối với các quốc gia đang phát triển.

Điều đáng ngạc nhiên là, cho mãi đến gần đây, những ảnh hưởng kinh tế của tham nhũng, nhất là trong một quốc gia cần phát triển và đang chuyển đổi như Việt Nam, ít khi được phân tích chu đáo. Nhiều câu hỏi vẫn chưa được trả lời một cách thỏa đáng: Tác động kinh tế của tham nhũng là sao? Bản chất mối liên hệ giữa tham nhũng và tăng trưởng là thế nào? Tham nhũng gây chậm tiến hay chậm tiến gây tham nhũng? Kinh tế thị trường là nguyên nhân hay giải pháp của tham nhũng?

Có người sẽ cho rằng không cần đi vào chi tiết những câu hỏi ấy bởi lẽ, theo họ, hậu quả tai hại của tham nhũng là quá hiển nhiên: bài toán bức xúc là phải làm sao để tận diệt nó. Cũng có người sẽ khẳng định tham nhũng là một tệ nạn giai đoạn: trong một nền kinh tế đang nhanh chóng chuyển thể và phát triển thì tham nhũng là khó thể tránh; khi xã hội và kinh tế đã phát triển thì tệ nạn ấy sẽ đương nhiên giảm đi.

Hai thái độ ấy (một thì cho rằng phải tận diệt tham nhũng bằng mọi giá, một thì cho là phải tạm thời chấp nhận tham nhũng) cần được xét lại. Một mặt, phải thấy rằng chống tham nhũng là một hoạt động đòi hỏi nhiều sức người, sức của. Do đó, để phân bố hữu hiệu nguồn lực quốc gia, ta cần quán triệt một cách khách quan, đè nén cảm tính nông nổi, những yếu tố đưa đến tham nhũng và hậu quả thực sự của hiện tượng này. Mặt khác, ý kiến cho rằng phát triển kinh tế có thể đi đôi với tham nhũng là một khẳng định còn thiếu thực chứng, và sẽ rất tai hại cho chính sách nếu sai lầm. Ta phải nghĩ sao nếu tham nhũng chính nó sẽ làm trì trệ tăng trưởng hay, nói cách khác, liên hệ giữa tăng trưởng và tham nhũng là liên hệ hai chiều? Thực vậy, trong bối cảnh hiện nay của nhiều nước đang phát triển và chuyển tiếp như Việt Nam, Trung Quốc (và, một phần nào đó, kể cả Nga) . . . tham nhũng là biểu hiện hội điểm của nhiều biến chuyễn đa nguyên, đa dạng (xã hội, chính trị, lịch sử, kinh tế). Nó có thể vừa là nguồn gốc, vừa là hậu quả, vừa là cái móc nối nhiều tệ nạn. Coi tham nhũng như là một đặc tính giai đoạn của một tiến trình lịch sử đường thẳng, theo tôi nghĩ, là một nhận định sai lầm.

Mục đích của bài này là nhằm đưa ra một số ý kiến về quan hệ giữa tham nhũng và tăng trưởng kinh tế, cụ thể là về các câu hỏi đặt ra ở trên. Đoạn I lược duyệt những tác động kinh tế tiêu cực của tham nhũng, chú ý đặc biệt đến ảnh hưởng của tham nhũng đến tăng trưởng. Đoạn II phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham nhũng, từ đó suy ra những biện pháp giảm trừ tham nhũng. Đoạn III bàn thêm về liên hệ giữa tham nhũng và những vấn đề kinh tế khác. Đoạn IV là kết luận.

I. NHỮNG TÁC ĐỘNG KINH TẾ TIÊU CỰC CỦA THAM NHŨNG

Cần nhìn nhận rằng không phải bao giờ cũng dễ xác định hành động nào là tham nhũng, hành động nào là không. Điển hình: mọi xã hội đều có phong tục quà cáp, đãi đằng. Đến mức độ nào thì những tập quán đó (khi chúng liên hệ đến công chức cán bộ) là tham nhũng? Theo một số nhà nghiên cứu phương Tây [xem Tanzi (1995)] thì tham nhũng là bất cứ hành vi nào của quan chức dưới ảnh hưởng của liên hệ cá nhân hoặc gia đình, thay vì hoàn toàn theo tín hiệu thị trường. Tôi cho quan điểm đó là vừa quá nhỏ hẹp, lại có ý quá tôn vinh cơ chế thị trường, nhưng không tìm được một định nghĩa vắn tắt và thỏa đáng hơn.

Như đã nói, bài này chỉ chú ý đến tác động kinh tế tiêu cực của tham nhũng. Có thể xếp các tác động này vào bốn phạm trù: phân bố nguồn lực, công cụ chính sách và cải cách thể chế, phân hoá giàu nghèo, và tính truyền nhiễm của nó.

1. Ảnh hưởng đến phân bố nguồn lực

(a) Muốn một nền kinh tế hoạt động tối hảo thì nguồn lực quốc gia (nhất là vốn) phải được phân bố cho đúng giữa đầu tư (cho tương lai) và tiêu xài (cho hiện tại), và hơn nữa, vốn đầu tư phải được phân bố cho đúng giữa những dự án khác nhau. Vì nhiều lý do, tham nhũng sẽ làm sự phân bố nguồn lực chệch ngoài cấu trúc tối hảo cho tăng trưởng và phát triển. Một là, trong một thế giới mà vốn có thể di chuyển khá dễ dàng từ nơi này sang nơi khác, người có vốn sẽ đầu tư vào những quốc gia ít tham nhũng. Hai là, trong một quốc gia, vốn sẽ chảy vào các khu vực ít tham nhũng. Ba là, nguồn lực nói chung sẽ được tiêu xài cho hiện tại hơn là đầu tư cho tương lai. Bốn là, những dự án được đầu tư thường là những dự án quá quy mô và phức tạp, bởi lẽ công trình càng quy mô và phức tạp thì cơ hội tham nhũng càng nhiều và càng dễ che đậy.[2] Tất cả bốn xu hướng đó có thể đưa vốn vào các mục tiêu, địa phương, hoặc khu vực trái ngược nhu cầu phát triền.

(b) Tham nhũng sẽ ảnh hưởng đến phân phối tài năng con người. Cụ thể, nó sẽ đưa đẩy nhiều tài năng vào những hoạt động không ích lợi cho xã hội. Thứ nhất, một số người sẽ bị thu hút vào các lĩnh vực dính líu đến tham nhũng (dù chính họ không là tham nhũng) vì thu nhập ở các lĩnh vực này tương đối khá hơn các lĩnh vực khác. Thứ hai, nhiều doanh nhân phải tốn công, tốn sức khắc phục các rào cản, thủ tục hành chính do giới chức tham nhũng dàn dựng, thay vì đưa những công sức ấy vào các hoạt động sản xuất.

Mặt khác, nhiều chức vụ trọng yếu sẽ vào tay những người thiếu khả năng, gây ra ba hậu quả. Một là, họ sẽ làm nhiều quyết định sai lầm, có hại cho cả nước. Hai là, những người có khả năng sẽ nản lòng phục vụ. Ba là, khi thế hệ trẻ thấy rằng muốn tiến thân chỉ cần chạy chọt móc nối thì họ sẽ coi nhẹ giáo dục học đường, làm suy giảm tiềm năng tăng trưởng.

(c) Tham nhũng sẽ làm yếu đi tác động tích cực của cạnh tranh trong thị trường. Cụ thể, thế cạnh tranh thị trường sẽ không phản ảnh hiệu năng kinh tế vì những xí nghiệp đút lót, dù kém hiệu năng, cũng sẽ được ưu đãi hơn những xí nghiệp khác. Tham nhũng sẽ làm cho điều kiện lao động thiếu vệ sinh, an toàn, gây ô nhiễm môi trường (chủ xí nghiệp đút lót cho các viên chức thanh tra). Cơ chế đấu thầu tham nhũng sẽ đưa đến các công trình xây cất thiếu tiêu chuẩn chất lượng, chóng hư, dễ đổ.

2. Ảnh hưởng đến chính sách kinh tế và cải cách thể chế

(a) Tham nhũng sẽ ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước. Một mặt, ngân sách sẽ bị khiếm thu nếu có bộ phận trốn thuế hoặc được giảm thuế nhờ đút lót. Mặt khác, tham nhũng sẽ gây lạm chi cho nhiều chính sách xã hội và công nghiệp.[3] Nhưng ảnh hưởng của tham nhũng trên ngân sách sẽ không dừng lại ở đó: khi ngân sách bị thiếu hụt thì nhà nước hoặc là phải cắt giảm các chương trình phúc lợi xã hội (gây thiệt thòi cho những đối tượng xứng đáng hưởng thụ các chương trình ấy) hoặc là tăng thuế. Thuế càng cao thì càng làm trì trệ các hoạt động kinh tế và, trong một xã hội tham nhũng, càng làm thiệt thòi cho các doanh nhân lương thiện, không đút lót.

Bởi lẽ thu chi cũng là một công cụ nòng cốt trong chính sách điều tiết, ổn định, và phát triển kinh tế của nhà nước, tham nhũng trong có cấu thuế má, chi tiêu, sẽ làm giảm hiệu lực các chính sách đó.

(b) Tham nhũng có thể ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ qua ba kênh. Một là, các viên chức có trách nhiệm cho vay, nếu tham nhũng, sẽ cho những người đi vay có đút lót một lãi suất ưu đãi, làm tăng khối lượng tiền lưu hành, tạo sức ép lạm phát. Hai là, nếu khu vực doanh nghiệp nhà nước là lớn thì chính sách tiền tệ (qua các quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và ngân hàng) sẽ có ảnh hưởng qua lại đến tham nhũng trong các doanh nghiệp đó. Ý kiến về chính sách tiền tệ do quản lý các doanh nghiệp này đưa ra có thể chỉ là nhằm che đậy tham nhũng đang có trong doanh nghiệp của họ, hoặc để tạo thêm cơ hội tham nhũng. Ba là, những kẻ làm giàu bất chính thường lén lút chuồn tiền ra nước ngoài, tăng mức cầu ngoại tệ, làm yếu nội tệ, ảnh hưởng đến cán cân thương mại quốc gia.[4]

(c) Bất cứ lúc nào (nhưng đặc biệt là trong thời kỳ chuyển đổi có cấu kinh tế) thì sự cải cách định chế quản lý nhà nước cũng sẽ gặp nhiều khó khăn, một phần do những cản ngại khách quan, một phần vì những ỳ tính trong phong thái con người. Những khó khăn đó càng nhân lên nhiều lần khi quá trình cải cách bị các phần tử tham nhũng cố tình kềm hãm (hầu duy trì những định chế tham nhũng đang có) hoặc làm chệch hướng (lập ra những định chế mới với nhiều cơ hội tham nhũng hơn).

Điều đáng lo ngại là rất khó phát hiện ảnh hưởng của tham nhũng vào quá trình biến đổi thể chế, nhất là khi nó được che đậy dưới những chỉ tiêu nghe rất hợp lý. Chẳng hạn như theo nhận xét của nhiều học giả thì chính quá trình phân tán quyền hành (decentralization) đã làm tham nhũng bành trướng khủng khiếp ở Nga sau khi Liên Xô tan ra. Gần đây, ở Trung quốc cũng đã có nhiều cảnh báo về tham nhũng liên hệ đến thị trường chứng khoán của họ. Tương tự, có ngưòi lo ngại rằng quyết định gần đây của Việt Nam nhằm tập trung nhiều doanh nghiệp nhà nước thành một số tổng công ty, tuy có vài hiệu quả kinh tế tích cực đáng kể, có thể sẽ làm tăng thêm cơ hội tham nhũng.

3. Ảnh hưởng đến phân hoá thu nhập và công bằng xã hội

Tham nhũng sẽ làm trầm trọng hơn mức độ chênh lệch thu nhập trong xã hội. Các viên chức nhận hối lộ, cũng như những người đút lót để có đặc quyền kinh doanh, chiếm hữu ruộng đất, sẽ mau chóng làm giàu, trong lúc đại đa số dân chúng phải tiếp tục sống trong cảnh nghèo nàn, thậm chí có khi càng bần cùng thêm.

Phải nhìn nhận rằng, đến một chừng mực nào đó, thu nhập không đồng đều là một hậu quả khó tránh của kinh tế thị trường, thậm chí có thể là cần thiết cho sự vận hành năng động của cơ chế đó nếu nó phản ảnh trung thực tài năng và sự cần mẫn làm ăn. Nhưng sự chênh lệch thu nhập do tham nhũng lại là một điều hoàn toàn khác. Ảnh hưởng của nó đến nhiều nhân tố cần thiết cho tăng trưởng kinh tế sẽ rất lớn và tiêu cực. Một là, sự phân hoá này sẽ làm yếu đi động lực hy sinh vì lợi ích chung, hai là, nó xói mòn lòng trọng nể uy quyền nhà nuớc và do đó làm cùn lụt các biện pháp điều tiết và chấn hưng kinh tế. Ba là, như đã nói, khi ngân sách bị khiếm hụt vì tham nhũng, nhà nước sẽ phải cắt giảm các hoạt động công ích và phúc lợi (giáo dục, xã hội, y tế) là các hoạt động mà đại bộ phận đối tượng là thành phần có thu nhập thấp. Như vậy, tham nhũng sẽ làm tăng khoảng cách giàu nghèo, khắc sâu hơn những ấn tượng bất công, mạnh mẽ khích động sự phẫn nộ đối với chế độ.

Nhìn một cách khác, liên hệ giữa tham nhũng và phân hoá thu nhập là hai chiều. Tham nhũng gây chênh lệch thu nhập, nhưng chính chênh lệch thu nhập cũng sẽ làm nhiều người mất niềm tin vào sự công bình của xã hội, đẩy họ vào con đuờng tham nhũng.

4. Ảnh hưởng của tham nhũng trên tham nhũng

Tham nhũng, nếu không bị chận đứng, sẽ gây thêm tham nhũng. Một khi đã tham nhũng, người tham nhũng sẽ tham nhũng thường hơn và với những số tiền lớn hơn. Các viên chức tham nhũng sẽ có xu hướng bổ nhiệm người kế vị hoặc thừa hành giống họ (để tiếp tục giữ bí mật tham nhũng), bất kể năng lực. Tham nhũng càng nhiều thì “giá trị” của các chức vụ có cơ hội tham nhũng càng cao và sẽ sinh ra những mua bán những chức vụ đó. Những người mua chức vụ đuơng nhiên sẽ tham nhũng thêm để lấy lại “vốn đầu tư” của mình và sẽ chống đối các cải cách có cơ làm giảm quyền lực những chức vụ đó.[5] Các viên chức tham nhũng sẽ thích nhận đút lót của những người có tiếng tham nhũng hơn là những người thanh liêm bởi lẽ những người có tiếng ham đút lót sẽ ít khi “trở cờ” truy tố kẻ nhận tham nhũng. Hậu quả là mạng lưới tham nhũng ngày càng bành trướng thêm.

Những người thanh liêm thì một là sẽ bị tham nhũng loại trừ, hoặc là cũng sẽ bị tham nhũng cám dỗ.[6] Tham nhũng càng nhiều thì càng khó trừ diệt.[7] Nếu tham nhũng là ít thì ta có thể ngăn ngừa bằng cách luân chuyển công chức cán bộ, nhưng nếu tham nhũng là rộng khắp thì chính việc thuyên chuyển cũng là một cơ hội tham nhũng thêm.

5. Tham nhũng có chăng những hậu quả kinh tế tích cực?

Mặc dù có nhiều ảnh hưởng kinh tế tiêu cực như vừa lược duyệt, một số tác giả[8] cho rằng tham nhũng cũng có vài hậu quả tích cực. Theo họ, tham nhũng, nếu ta không nhìn đến sự xúc phạm giá trị đạo đức của nó, cơ bản chỉ là một hoạt động mua bán chẳng khác gì những mua bán khác trong thị trường. Nói cách khác, đút lót hối lộ là đối sách tự nhiên của một “con người kinh tế” nhằm vượt qua các cản ngại trong kinh doanh (hành chính quan liêu, thủ tục rườm rà). Nó cũng có thể được coi như là một thứ “bảo hiểm” do doanh nhân “mua” nhằm phòng chống những thay đổi bất ngờ về luật lệ, chính sách, gây xáo trộn cho kế hoạch làm ăn của họ. Một số nhà kinh tế còn cho rằng, trong nhiều trường hợp, các quan chức cấp đặc quyền kinh tế cho bạn bè thân quyến chẳng phải vì tham nhũng nhưng vì họ biết rõ hạnh kiểm và năng lực của những người này hơn là của những người mà họ không quen.[9] Cũng có người nghĩ rằng, các viên chức tham nhũng sẽ làm việc năng nổ hơn, dù chỉ là để phục vụ các doanh nghiệp mà họ đã nhận đút lót.

Thoạt nhìn thì các biện giải trên không phải là hoàn toàn phi lý, nhưng xem kỹ lại thì chúng căn cứ vào nhiều giả định huyền hoặc, thậm chí ngây thơ. Thứ nhất, lý luận cho rằng tham nhũng là có hậu quả tốt cho kinh tế chỉ có thể là đúng (nếu là đúng) phần nào đối với loại tham nhũng liên hệ đến mua bán những quyết định mà bản chất là hợp pháp (ví dụ như để làm nhanh thủ tục hành chánh); lý luận đó không áp dụng được đối với loại tham nhũng dính líu đến chia chác lợi lộc các hoạt động phi pháp (như buôn lậu, biển thủ). Nói cách khác, sự năng nổ “phục vụ” của quan chức có thể đem lại nhiều hậu quả tai hại hơn nếu chính những hoạt động mà họ nâng đỡ phục vụ là phi pháp. Thứ hai, chưa chắc là các viên chức nhận đút lót sẽ làm việc năng nổ hơn. Có thể chính họ sẽ bày đặt thêm thủ tục hành chánh để tăng cơ hội tham nhũng. Thứ ba, dù cho rằng hoạt động tham nhũng có là gián tiếp “đóng góp” phần nào vào tiến trình tự do hoá thị trường (bằng cách giảm đi hiệu năng can thiệp của nhà nước) thì điều đó chỉ đáng cổ vũ nếu sự can thiệp của nhà nước hoàn toàn là nên tránh. Nói khác đi, lập luận đó sẽ mất ý nghĩa nếu sự điều tiết của nhà nước là cần thiết cho phát triển kinh tế hoặc những lợi ích công cộng khác.

Có người lý luận rằng, vì vốn là cần thiết để phát triển kinh tế, tham nhũng có thể có hậu quả “tốt” vì nó là một cách (dù là phi pháp) cho một số người tích tụ vốn để đầu tư sản xuất. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm ở nhiều nước, tài sản do tham nhũng đem lại ít khi được kinh doanh chân chính hoặc vào những hoạt động có nhiều lợi ích cho quốc gia. Người tham nhũng hoặc là sẽ tiêu xài hoang phí (nhất là vào các hàng xa xỉ ngoại nhập), hoặc là giấu giếm tài sản của mình, thường bằng cách chuồn tiền ra nước ngoài, làm trầm trọng thêm sự đào tẩu vốn. Hơn nữa, các kinh doanh hợp pháp khó có lợi nhuận hậu hĩ như trong “dịch vụ” tham nhũng, do đó tài sản do tham nhũng đem lại thường được đưa vào nhũng kinh doanh phi pháp khác.

Cũng có người cho rằng tính phi pháp của tham nhũng phải được thẩm định trong bối cảnh văn hoá và phong tục của xã hội liên hệ. Theo họ, tham nhũng ở các nước phương Đông thực sự là không nhiều như các người quan sát phương Tây nhận xét. Có nhiều phong tục tập quán trong một xã hội có thể bị người ngoài xã hội ấy cho là tham nhũng. Biện luận loại này về tính “tưong đối” của văn hoá vừa là sai lầm, vừa là có ý khinh rẽ văn hoá phương Đông. Tham nhũng không bao giờ được chấp nhận như một phong tục tập quán tốt trong bất cứ xã hội nào.

II. THAM NHŨNG: THÀNH TỐ VÀ ĐỐI SÁCH

Trước những hậu quả tệ hại của tham nhũng như đã trình bày ở Đoạn I, hai câu hỏi cần được đặt ra: (1) mức độ tham nhũng tùy vào những thành tố nào? Và (2) làm thế nào để giảm bớt tham nhũng?

1. Ba thành tố quyết định mức độ tham nhũng

Ta có thể ba phân biệt ba thành tố quyết định mức độ tham nhũng, đó là: động lực, cơ hội, và mức lợi của tham nhũng.

(1) Hiển nhiên, tham nhũng chỉ có thể xảy ra khi những người ở địa vị nhận và nộp hối lộ có động lực làm việc đó. Động lực tham nhũng chính nó sẽ tùy vào ba yếu tố. Một là tính ham chuộng vật chất, hai là đạo đức cá nhân (nhất là ý thức về quyền lợi cá nhân so với lợi ích cộng đồng), và ba là cảm quan về mức độ công bình của xã hội, sự nghiêm minh của thể chế, và tác phong của những người có chức vụ cao. Trong một xã hội vô kỷ cương, khi mà những người ở địa vị có thể làm gương cho kẻ khác lại tham nhũng, quơ quét công sản, thì càng nhiều người sẽ cho tham nhũng là “tự nhiên”, động lực không tham nhũng sẽ giảm đi.

(2) Thành tố thứ hai của tham nhũng là cơ hội dùng chức vụ nhà nước để ra những quyết định có lợi cho một ít người, đáp lại đút lót của những người ấy. Cơ hội tham nhũng có thể do chính những viên chức có khuynh hướng tham nhũng tạo ra, ví dụ họ có thể làm rườm rà thêm thủ tục hành chính để có dịp chấm mút, tống tiền. Nói chung, giao diện giữa quyền lực hành chính và lợi lộc kinh tế cá thể (thay vì cộng đồng) càng lớn thì cơ hội tham nhũng càng nhiều. Cơ hội tham nhũng là biến số nghịch với (1) thẩm quyền tùy tiện quyết định, và (2) độ dễ phát hiện.

(3) Thành tố thứ ba của tham nhũng là mức lợi của nó. Mức lợi là tương đối, theo hai nghĩa: (a) một là, nó tùy thuộc vào mức khác biệt giữa thu nhập có tham nhũng và thu nhập không tham nhũng, (b) hai là, nó tùy thuộc vào thu nhập nếu tham nhũng được thoát và hình phạt (tù tội, tiền phạt, mất chức) nếu tham nhũng bị phát giác. Bảo rằng thu nhập thấp nhất thiết sẽ gây tham nhũng là không đúng. Cũng không hẳn tham nhũng sẽ giảm đi khi thu nhập bình quân là cao, bởi lẽ, trong trường hợp đó người đưa hối lộ sẽ có khả năng tăng số tiền hối lộ, tức là tăng lên mức lợi của tham nhũng.

Phải để ý là trong nhiều “dịch vụ tham nhũng” cả người nhận lẫn người nộp hối lộ đều được lợi. Ai lợi nhiều, ai lợi ít, là tùy thuộc vào “thế thương lượng” giữa hai bên. Thế thương lượng của nguời nộp hối lộ sẽ tương đối mạnh nếu họ có cách tránh giới chức đòi hối lộ, hoặc nếu là dễ tố cáo, khiếu nại. Ngược lại, nếu người nhận hối lộ nắm giữ những địa vị then chốt thì thế đòi tiền hối lộ sẽ lớn hơn.

Nhìn hiện trạng một số nước đang chuyển đổi (và có thể là đã khá phát triển), có người đặt câu hỏi: tại sao tham nhũng đặc biệt trầm trọng trong thời kỳ chuyển đổi từ một kinh tế tập trung sang một nền kinh tế thị trường? Người viết bài này có ý kiến như sau. Trong thời kỳ cũ, khi khu vực quốc doanh còn rộng thì tất nhiên là đa số những người có khả năng, năng động là nằm trong khu vực đó, tức là làm công chức cán bộ nhà nước. Khi nền kinh tế chuyển đổi sang thị trường thì một số những người này, vừa có năng lực, lại vừa có cơ hội làm ăn kinh doanh trong khu vực tư, không cưỡng nổi sự cám dỗ lạm dụng những thông tin mà họ có được qua nhiệm chức, hoặc mạng lưới những ngưòi quen biết trong chính quyền, để làm ăn kinh doanh. Nhìn một cách khác, trong giai đoạn chuyển tiếp, một mặt thì giao diện giữa những hành chính công quyền và hoạt động kinh tế còn rộng, mà mặt khác thì thu nhập do các hoạt động thị trường cũng đã tăng nhanh. Hậu quả là, cơ hội hối mại quyền thế vẫn còn lớn, mà người làm giàu nhờ tham nhũng dễ ngụy trang những thu nhập bất chính của mình qua những hoạt động thương mại thị trường. Đó là nhũng lý do tại sao tham nhũng trong thời kỳ chuyển tiếp là đặc biệt trầm trọng.

2. Một số biện pháp đối phó với tham nhũng

Biện pháp đối phó với tham nhũng có thể chia ra ba nhóm, tương ứng với ba thành tố tham nhũng: động lực, cơ hội, và mức lợi.

(1) Giảm Động Lực Tham Nhũng

Không có biện pháp chống tham nhũng nào quan trọng hơn làm kềm hãm động lực tham nhũng, và có thể chỉ thực hiện được điều đó khi cấp lãnh đạo tuyệt đối thanh liêm trong sạch.

(2) Giảm Cơ hội Tham Nhũng

(a) Làm đơn giản, hợp lý hoá, lấp những lỗ hổng trong luật thuế, công khai hoá mức thuế, kiện toàn cơ cấu kiểm tra bộ máy thu thuế. Tránh đặt quá nhiều loại lệ phí. Chấn chỉnh guồng máy quản lý tài chính, kế toán, kiểm tra của nhà nuớc, nhất là trong cơ quan liên hệ đến quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước. Chấm dứt độc quyền và đặc quyền. Chấm dứt kiềm chế giá cả.

(b) Cơ hội tham nhũng sẽ đương nhiên giảm khi toàn bộ cơ cấu hành chính và kinh tế được trong suốt hoá. Khi cải cách thủ tục hành chánh phải đặt câu hỏi: sắp xếp ra sao thì ít có cơ hội tham nhũng? Phổ biến rộng rãi ngân quỹ chi tiết của từng dự án. Công tác soạn thảo các định luật thiết lập thể chế (nhất là các quyết định về thuế) cần phải công khai, có sự bàn bạc, góp ý của các chuyên gia trong lẫn ngoài các cơ quan liên hệ. Mọi quyết định đều phải công khai. Khi thẩm định các đề án đầu tư xây dựng, chúng ta phải so sánh cơ hội tham nhũng của từng dự án. Nên để ý, vì tất cả mọi hoạt động kinh tế xã hội đều có liên hệ qua lại với nhau, giảm cơ hội tham nhũng trong lĩnh vực này có thể sẽ gây thêm cơ hội tham nhũng ở lĩnh vực khác. Thu nhỏ nền “kinh tế ngầm” (các hoạt động kinh tế không khai thuế) vì khu vực này càng lớn thì hiệu năng của đòn bẩy thuế má càng yếu.

Theo kinh nghiệm nhiều nước, tham nhũng sẽ giảm đi nếu các viên chức trong công tác dễ tham nhũng làm việc cặp. Nên thuyên chuyển thưòng xuyên (tuy nhiên, có người cho rằng biện pháp này có thể làm tăng tham nhũng vì các viên chức sẽ cố gắng hối lộ thật nhiều trước khi bị thuyên chuyển). Phải có một cơ chế hữu hiệu để người dân tố cáo tham nhũng.

Dù trên thực tế thì tổng thù lao (lương căn bản cộng với các phụ cấp ngoại ngạch hợp pháp, chính thức cũng như không chính thức) của số lớn công chức cán bộ hiện nay không là quá thấp so với khu vực tư, chế độ lương bổng cần phải sửa đổi. Những khoản phụ cấp ngoại ngạch là chỗ mà tham nhũng dễ nảy nở (đó là không nói đến việc nhà nước sẽ mất thuế thu nhập vì những mối thu nhập ngoại ngạch này ít khi được khai báo). Nên chính thức hoá những loại phụ cấp này.

(3) Giảm Lợi của Tham Nhũng

Như đã nói ở trên, lợi của tham nhũng là lợi tương đối: so với tình trạng không tham nhũng, cũng như so với những hình phạt nếu tham nhũng bị phát giác. Như vậy, để giảm tham nhũng ta phải giảm chênh lệch thu nhập giữa tham nhũng và không tham nhũng, và tăng hình phạt tham nhũng.

Tuy rằng nâng cao mức sống công chức cán bộ có thể thực hiện ở nhiều mặt, trong một nền kinh tế thị trường thì nó gần như là đồng nghĩa với tăng lương.[10] Điều này dễ lý giải trong mô hình kinh tế: lương càng cao thì người tham nhũng sẽ mất mát nhiều hơn nếu tham nhũng bị phát giác.[11] Tăng lương cho công chức cán bộ không chỉ để các công chức cán bộ hiện tại không bị tham nhũng quyến rũ, nhưng còn để thu hút vào khu vực công những người thanh liêm và có năng lực. Nếu lương công chức cán bộ là quá thấp so với khu vực tư thì khu vực công chỉ là hấp dẫn đối với những thành phần xem quyền chức là cơ hội tham nhũng.

Tuy nhiên, cũng cần nghĩ đến vài hậu quả phức tạp của việc tăng lương cho công chức cán bộ. Một là, không phải cơ hội tham nhũng của mọi công chức cán bộ đều ngang nhau. Nếu chỉ tăng lương cho những ngành có cơ hội tham nhũng thì có là bất công cho những ngành không có cơ hội tham nhũng chăng? Hai là, tăng lương cho công chức cán bộ đủ cao để họ không kiếm chác thêm thì lại khiến nhiều người chạy chọt đút lót để có những chức vụ đó. Ba là, tăng lương cán bộ có thể gây ra lạm chi ngân sách và những hậu quả vĩ mô của nó.

Đối tượng của các biện pháp chống tham nhũng phải là (i) người nhận hối lộ cũng như người nộp hối lộ, (ii) giảm thu nhập do tham nhũng cũng như tăng hình phạt cho tham nhũng. Theo kinh nghiệm nhiều nước, các biện pháp chống tham nhũng nhắm vào người đi đút lót (hoặc làm trung gian) có thể có hiệu quả hơn nhắm vào người nhận đút lót.

Phải triệt để bảo vệ những người có can đảm tố cáo tham nhũng (có bằng cớ). Khuyến khích các phương tiện truyền thông điều tra tham nhũng (một cách có trách nhiệm). Đặc biệt trừng phạt nặng nề những tham nhũng mà đối tượng là người có thu nhập thấp, hoặc những chương trình xã hội xoá đói giảm nghèo (đề nghị gần đây của phái đoàn Ngân hàng Thế giới ở In-đô-nê-xia)

III. THAM NHŨNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ KHÁC

Tuy rằng hầu như mọi người đều nhất trí về các thành tố gây tham nhũng và những biện pháp bài trừ tham nhũng trình bày ở Đoạn II trên đây, ý kiến có nhiều chổ không tường tận và bất đồng đối với liên hệ giữa tham nhũng và những vấn đề kinh tế khác. Đoạn III này sẽ bàn đến bốn đề tài đương đại: (1) Tham nhũng và kinh tế thị trường, (2) tham nhũng và sự chọn lựa công cụ điều tiết, (3) tham nhũng và phát triển, và (4) tham nhũng trong một nền kinh tế mở.

1. Tham nhũng và kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là giải pháp hay nguyên nhân của tham nhũng? Có hai quan điểm.

(1) Theo một quan điểm[12] thì, nếu không bị kiềm chế, cơ cấu thị trường tự nó sẽ thanh lọc các cơ hội mờ ám, khử trừ chỗ dung thân của tham nhũng. Nói cách khác, thị trường là giải pháp cho tệ nạn tham nhũng. Quan điểm này lấy chủ nghĩa tư bản thị trường làm gốc, xem bản năng con người là vị kỷ, luôn tìm mọi cách để thủ lợi cho bản thân. Nó khẳng định nhà nước không thể uốn biến động lực vị kỷ của con người, chỉ có thể thay đổi cơ hội và mức lợi của tham nhũng. Người có quan điểm này cho rằng cơ chế thị trường thông thoáng trong một xã hội kiên cố pháp trị sẽ làm giảm lợi lộc của tham nhũng. Một là, nếu như không còn hành chánh quan liêu thì độc quyền sẽ ít đi, đặc lợi sẽ hạ thấp. Hai là, nếu bị trừng trị nặng nề thì cái “giá phí cơ hội” của tham nhũng sẽ là rất cao so với những hoạt động làm ăn hợp pháp. Tóm lại, tin tưởng tuyệt đối vào hiệu lực thị trường, quan điểm này vừa phủ nhận vai trò của nhà nước trong kinh tế, vừa khẳng định tham nhũng là tất nhiên trong một chế độ mà nhà nuớc còn can thiệp vào các hoạt động kinh tế.

(2) Theo quan điểm thứ hai thì tham nhũng là hậu quả của tình trạng đạo đức suy đồi, kỷ cương lỏng lẻo. Nói cách khác, tham nhũng phát sinh từ động lực của con người. Đi xa hơn, nhiều người có quan điểm này còn cho rằng chính kinh tế thị trường, qua sự thúc đẩy tinh thần vị kỷ, thực dụng của nó, đã gây ra sự suy đồi đạo đức đó.

■ Phải nghĩ sao về hai quan điểm này?

Tạm gạt vấn đề tham nhũng qua một bên, ngay trong một nền kinh tế đã phát triển, thị trường đã mở mang, có nhiều lĩnh vực mà sự can thiệp của nhà nước là cần thiết, nhất là trong những lĩnh vực kinh tế nhiều ngoại ứng (externalities).[13] Nói cách khác[14] những người khẳng định rằng cơ chế thị trường sẽ làm giảm tham nhũng có lẽ đã quên những chỗ yếu của cơ chế đó (nhất là về mặt công bằng xã hội). Song, lý luận ngược lại, cho rằng phải chấp nhận tham nhũng vì điều tiết là cần thiết cũng không đúng, vì hai lý do. Một là, không phải bất cứ nơi đâu và lúc nào thì mức độ tham nhũng cũng tăng giảm cùng chiều với mức độ can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế. Nó còn tùy vào nhiều biến số khác như môi trường xã hội, luật pháp, thời điểm và khâu đoạn phát triển. Hai là, bởi lẽ tham nhũng làm rệu rã tính cộng đồng, xói mòn sự nể trọng uy quyền nhà nước, chính nó sẽ làm vô hiệu hoá các biện pháp quản lý và điều tiết kinh tế Như vậy, quan điểm thứ nhất thiếu một cái nhìn toàn bộ về năng lực của thị trường cũng như vai trò nhà nước trong hoạt động kinh tế

Quả có đúng là một nhược điểm của cơ chế thị trường là nó chỉ khuyến khích những hoạt động có lợi ích cho bản thân cá nhân, và không khuyến khích những hoạt động chỉ có lợi ích cho cộng đồng. Do đó, trong công tác chống tham nhũng, hiệu năng của những biện pháp mà mục đích là nhằm giảm đi động lực tham nhũng sẽ càng thấp khi mức độ thị trường hoá của nền kinh tế càng cao. Nói cách khác, nhiều biện pháp chống tham nhũng (ví dụ như cổ vũ kiên trì đạo đức, hồi phục truyền thống cách mạng) có hiệu quả ở một khâu đoạn này của quá trình thị trường hoá có thể sẽ không còn hiệu quả ở một khâu đoạn khác của quá trình đó. Những người cực đoan tôn vinh chủ nghĩa thị trường, không chú ý đến đặc trưng lịch sử và văn hoá của một nước, cũng sẽ sai lầm như những người cho rằng quá trình thị trường hoá có thể tiến hành biệt lập và hài hoà với những đặc trưng văn hoá và lịch sử ấy.

Trong một nền kinh tế lạc hậu, pháp luật còn phôi thai, nhiều sơ hở, và cơ chế tư pháp còn thiếu cán bộ đủ trình độ, thì sự can thiệp của nhà nước vào thị trường sẽ là môi sinh của tham nhũng. Nói khác đi, sự can thiệp đó sẽ là hữu hiệu hơn khi dân trí đã cao, định chế luật pháp (và guồng máy tư pháp) đã đầy đủ, rõ ràng, hoặc là động lực tham nhũng là yếu (tác phong đạo đức cá nhân, tinh thần cộng đồng xã hội còn mạnh). (Trong chừng mực mà sự can thiệp này là lý do thần kỳ Đông Á vào những thập kỹ 70, 80 thì có lẽ là do yếu tố sau cùng.)

Hơn nữa , thực chứng cho thấy xã hội có thể ảnh hưởng đến tác phong con người.

2. Tham nhũng và sự chọn lựa công cụ điều tiết kinh tế

Như đã trình bày, hoàn toàn buông thả thị trường, đình chỉ mọi can thiệp của nhà nước, trên thực tế không phải là giải pháp độc nhất hoặc tốt nhất để bài trừ tham nhũng. Vì nhiều lý do khác nhau, sự can thiệp của nhà nước (đến một mức độ nào đó) là cần thiết. Khẳng định như vậy để đi đến một nhận định kế tiếp, đó là: khi các đòn bẫy kinh tế bị tham nhũng làm méo mó thì các biện pháp điều tiết, các chính sách kinh tế vĩ mô, chẳng những sẽ không đem lại những kết quả mong muốn nhưng còn gây ra nhiều hậu quả còn tệ hại hơn là nếu không có những biện pháp và chính sách ấy. Nói cách khác, để sự can thiệp của nhà nước vào thị trường được hữu hiệu thì (1) phải diệt trừ tham nhũng (nhất là trong cơ chế điều tiết) hoặc là (2) chọn lựa cơ chế điều tiết ít tham nhũng (mặc dù cơ chế ấy có thể kém hiệu năng (xét theo tiêu chí kinh tế nào đó) hơn một cơ chế khác).

Ví dụ thứ nhất: công cụ điều tiết vĩ mô tuy không có nhiều hiệu năng tinh tế như công cụ điều tiết vi mô nhưng có thể nên được chọn nếu như nó ít gây ra cơ hội tham nhũng.

Ví dụ thứ hai: trong nhiều lĩnh vực điều tiết thì công cụ hạn ngạch (quantity control) có thể kém hiệu năng hơn công cụ giá (price control), tuy nhiên công cụ giá (qua thuế) sẽ có nhiều cơ hội tham nhũng hơn công cụ hạn ngạch, như vậy thì ta nên dùng công cụ hạn ngạch, ít nhất là cho đến khi guồng máy thuế vụ được trong sạch hơn.

Ví dụ thứ ba: một cơ chế càng máy móc, cứng nhắc (tức là đáng tránh cho một nền kinh tế cần linh động đề phát triển) thì, oái oăm thay, thường lại là một cơ chế ít cơ hội tham nhũng (vì ít người có quyền ban ngoại lệ).[15] Cũng vậy, thoạt nhìn thì để tránh tham nhũng trong guồng máy thuế khoá, luật thuế cần phải được rõ ràng, không để cán bộ thu thuế có quá nhiều quyết định tùy nghi. Lắm khi, giải pháp đó sẽ làm bộ máy hành chính quá cứng nhắc, không nhanh nhạy ứng biến với những tình huống cá biệt.

Ví dụ thứ tư: kinh nghiệm gần đây cho thấy sự đánh đổi giữa hiệu năng kinh tế và cơ hội tham nhũng là rõ rệt nhất trong những bài toán liên hệ đến chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ở các quốc gia đang chuyển đổi. Nói thẳng ra, cổ phần hoá sẽ làm tăng hiệu năng kinh tế nhưng chính nó sẽ tạo ra nhiều cơ hội tham nhũng. Ta nên hỏi: có biện pháp nào (ngoài cổ phần hoá các DNNN) mà cũng tăng hiệu năng kinh tế tương tự nhưng ít có hiệu ứng thứ cấp tai hại như tham nhũng? Tối thiểu, nó bắt buộc một chuẩn bị pháp lý tươm tất trước khi bắt đầu cổ phần hóa.[16]

Trên bình diện kinh tế, đa số hoạt động chống tham nhũng (thanh tra, điều tra, công an, tư pháp) cần nhiều nhân vật lực có thể được sử dụng vào những hoạt động khác đóng góp trực tiếp hơn cho phát triển. Tuy sự đánh đổi này sẽ không là đáng kể khi nền kinh tế còn chưa đến mức độ toàn dụng nguồn lực, nó đưa đến ba hệ luận. Thứ nhất, vì nguồn lực bao giờ cũng có giới hạn, phải chấp nhận rằng tham nhũng sẽ không bao giờ bị tận diệt. Thứ hai, phải cố gắng phát hiện những biện pháp chống tham nhũng dựa vào các đòn bẫy phi kinh tế, cần ít sức người, sức của. Thứ ba, phải đặt thứ tự ưu tiên.

Ưu tiên số một phải là bài trừ những tham nhũng có hại cho định chế và kinh tế nhất. Những tham nhũng trong khâu giao thông vận tãi, chẳng hạn, tuy là có thể không “lớn” như những tham nhũng trong lĩnh vực ngân hàng hay các xí nghiệp quốc doanh, nhưng có ảnh hưởng rất là sâu rộng và trực tiếp đến mọi thành phần, mọi hoạt động sản xuất. Tham nhũng dung túng những tội phạm kinh tế khác (buôn lậu, biển thủ). Như vậy, diệt trừ tham nhũng phải thực hiện trước, hoặc ít nhất đồng thời với những hoạt động bài trừ các tệ nạn xã hội và kinh tế khác.

3. Tham nhũng và phát triển

Như đã trình bày ở Đoạn I, tham nhũng có những hậu quả tiêu cực đến phân bố nguồn lực (nhất là vốn), đến chênh lệch thu nhập . . . là những yếu tố cần thiết để phát triển. Trong chừng mực đó, hiển nhiên là tham nhũng sẽ làm chậm phát triển. Tuy nhiên, vẫn tồn tại hai câu hỏi. Thứ nhất, vì như đã vừa nói trên, hoạt động chống tham nhũng cần một số nguồn lực có thể đầu tư cho phát triển, liệu có thể có kịch bản nào theo đó nên dồn hết nguồn lực cho phát triển? Thứ hai, nếu, dù có tham nhũng song, nhờ những yếu tố nào đó mà ta có được tiếp tục tăng trưởng thì liệu chính sự tăng trưởng đó sẽ làm giảm tham nhũng chăng?

Nhiều học giả cho rằng không thể tránh được tình trạng tham nhũng sẽ trầm trọng trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển (nhất là khi sự phát triển đó là đồng thời với sự chuyển đổi từ kinh tế chỉ huy sang kinh tế thị trường – xem đoạn trên). Họ lý luận rằng, một là, khi thị truờng bắt đầu bốc thì nhiều cơ hội tham nhũng sẽ nảy sinh. Hai là, tiến trình cổ phần hoá sẽ tạo nhiều cơ hội tham nhũng. Ba là, công chức cán bộ với đồng lương cố định dễ bị tham nhũng cám dỗ. Ngược lại, họ lý luận, khi một nước đã phát triển và ổn định thì tình trạng tham nhũng sẽ giảm đi vì (1) thông tin sẽ nhiều hơn, và (2) “luật chơi” trở nên minh bạch hơn, (3) thu nhập có thể nâng cao được qua những hoạt động kinh tế hợp pháp.

Nhận định trên có nhiều điều bất cập. Thứ nhất, nó chỉ nhìn đến hướng liên hệ từ phát triển đến tham nhũng mà không đến hướng liên hệ ngược lại: từ tham nhũng đến phát triển. Song, như đã phân tích ở Đoạn I, tham nhũng chính nó sẽ làm suy yếu những thành tố then chốt của tăng trưởng. Hơn nữa, tăng trưởng càng chậm thì càng khó dập tắt tham nhũng. Lý do là, khi kinh tế đang nhanh chóng tăng trưởng, cải tổ thể chế để loại trừ tham nhũng sẽ ít bị đối kháng vì đa số sẽ nhận ra rằng không cần phải tham nhũng mới làm giàu. Do đó các biện pháp cải cách thể chế để tham nhũng mất nơi ẩn nấp tương đối còn dễ dàng. Khi tăng trưởng trì trệ thì những cải cách thể chế có đụng chạm đến tham nhũng sẽ gặp nhiều chống đối hơn.

Thứ hai, có thể chăng liên hệ giữa tăng trưởng và tham nhũng là một chiều (từ tăng trưởng đến tham nhũng) đúng như theo nhận định này, nhưng là một liên hệ thuận, thay vì ngược? Xin lấy một ví dụ. Khi một nền kinh tế còn lạc hậu thì tham nhũng có thể là từ 5-10% giá trị các dự án. Khi tăng trưởng bắt đầu bốc thì số này có thể tăng lên 15-20%. Mà khi lợi lộc tham nhũng càng cao thì càng có nhiều giành giật (làm tiêu phí nguồn lực quốc gia) đề chia sẻ lợi lộc tham nhũng đó. Như vậy, nguồn lực để phát triển sẽ kém đi và do đó, không chóng thì chầy, tăng trưởng sẽ chững lại vì tham nhũng. Tham nhũng tự nó sẽ không giảm đi chỉ vì tăng trưởng mà cần có một chính sách để đối phó với nó.

Theo người viết bài này, tham nhũng có làm giảm tăng trưởng (nhất là một tăng trưởng cân đối, bền vững) nhưng phát triển cân đối, bền vững cũng sẽ làm giảm tham nhũng. Nói gọn lại: càng nhiều tham nhũng thì càng chậm phát triển, mà càng chậm phát triển thì tham nhũng càng dây dưa. Đó là một cái vòng luẩn quẩn.

Cuối cùng, phải nhớ rằng tăng trưởng thu nhập không bao giờ là mục tiêu duy nhất của phát triển. Cho dù tăng trưởng thu nhập có thể xảy ra trong một xã hội tham nhũng, chênh lệch giàu nghèo sâu sắc, tệ nạn tràn lan, song khó thể nói rằng một xã hội như vậy thật sự là phát triển.

4. Tham Nhũng Trong Một Nền Kinh Tế Mở

Trong một nền kinh tế mở cửa, ảnh hưởng qua lại giữa tham nhũng và đầu tư nước ngoài gây thêm nhiều khía cạnh đáng quan tâm.

(a) Đối với những viên chức tham ô thì nền kinh tế mở có những hấp dẫn đặc biệt. Một là, các công ty ngoại quốc có sức đưa nộp những món tiền hối lộ kếch xù, có thể gấp trăm, gấp ngàn lần những số tiền mà công ty bản xứ có khả năng đút lót. Hai là, phần lớn tiền tham nhũng nhận được từ nước ngoài sẽ nằm lại trong các tài khoản các ngân hàng ngoài nước, ngoài vòng kiểm tra của nhà nước, và chính nó sẽ làm cơ hội tham nhũng giữa những người trong nước tăng lên (họ chỉ cần chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác ở ngoại quốc). Ba là, về tâm lý, nhận tiền hối lộ của người nước ngoài sẽ được cảm thấy là ít tội lỗi hơn là tống tiền của người trong nước.

(b) Chẳng những vậy, chính sự có mặt của các công ty nước ngoài có thể làm tham nhũng gia tăng. Các công ty ngoại quốc đã hoạt động trong nước thường đút lót để đối thủ của họ không được phép xâm nhập. Những công ty đã hối lộ để xâm nhập vào thị trường nào đó thì sẽ có động lực hối lộ thêm để giữ các viên chức tham nhũng, ngăn ngừa cạnh tranh của các công ty khác (và sẽ tống tiền các viên chức đã nhận hối lộ). Nhiều quốc gia không đếm xỉa đến luật pháp các quốc gia khác, ngầm khuyến khích các công ty của họ đút lót quan chức bản xứ, miễn là được mối hàng thì thôi.

(c) Những công ty (nước ngoài) có xu hướng làm ăn bằng cách đút lót là những công ty không nhiều hiệu quả kinh tế hơn những công ty muốn làm ăn chân chính. Đầu tư nước ngoài sẽ chảy vào các xí nghiệp, dự án có nhiều móc nối, tham nhũng, hơn là phân bố theo lợi nhuận kinh tế.

(d) Trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, các xí nghiệp ngoại quốc rất dễ chuyển dự án đầu tư của họ từ một nước nhiều tham nhũng sang một nước ít tham nhũng. Dù không có bằng chứng rõ ràng là tham nhũng tăng hay giảm ngoại thương,[17] theo nhiều người thì càng có ít những kiềm chế ngoại thương thì ảnh hưởng của tham nhũng càng ít. Tuy nhiên tham nhũng sẽ làm méo mó các chính sách ngoại thương và làm chệch đi phân phối lợi ích của thương mại.

IV. KẾT LUẬN

Giải trừ tham nhũng là yếu tố cần thiết để phát triển kinh tế (nhất là phát triển một cách cân đối, bền vững), và là một yếu tố quan trọng trong tiến trình chuyển biến cơ cấu kinh tế. Cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế từ giữa năm 1997 đã cho thấy tai hại của tham nhũng: tham nhũng vừa là một trong những nguyên nhân đưa đến khủng hoảng, vừa là một trở ngại then chốt cho những giải pháp vượt qua cuộc khủng hoảng này. Như báo cáo gần đây của một phái đoàn Ngân Hàng Thế Giới về tình trạng tham nhũng ở In-đô-nê-xia khẳng định, vấn đề tham nhũng cần được khẩn cấp đương đầu vì ba lý do. Một là cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay đưa cả hàng chục triệu người vào cảnh nghèo đói. Để đối phó với cuộc khủng hoảng này chính phủ cần được niềm tin tuyệt đối của dân chúng. Tham nhũng sẽ đánh mất đi niềm tin đó. Hai là, cũng chính niềm tin đó là cần thiết để chính phủ dìu dắt công cuộc chuyển biến kinh tế. Và ba là, sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế sẽ không có hiệu lực nếu tham nhũng lan tràn.

Trong một nước tự hào theo xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, tham nhũng, qua hậu quả phân hoá giàu nghèo một cách bất công của nó, là hiểm họa quan trọng đặc biệt cho chế độ. Bởi lẽ, không giống những quốc gia tư bản mà sự công bằng xã hội không là một mục tiêu hàng đầu, bản chất của xã hội chủ nghĩa chính là sự công bằng đó. Như vậy, sự bất bình của người dân đối với một chế độ xã hội chủ nghĩa (do chính họ đã đóng góp xương máu để xây dựng) bị tham nhũng đục khoét sẽ gấp nhiều lần hơn sự bất bình trong những chế độ khác với cùng một mức độ tham nhũng. Như cố vấn Võ Văn Kiệt (Kiến Thức Ngày Nay số 291) đã nói:

Điều làm chúng tôi ray rứt nhất là một Đảng cầm quyền mà tham nhũng lại nằm trong bộ máy Nhà nước. Có người cho rằng tham nhũng là do cơ chế thị trường. Tôi không nghĩ như thế. Tình trạng tham nhũng như hiện nay cũng có lý do khách quan nhưng chủ yếu là do chủ quan. Cần phải có công cụ quản lý xã hội tốt, đủ mạnh và thật tập trung thì mới hạn chế được. Trước hết phải xác định Nhà nước ta phải là một nhà nước pháp quyền, ai ai cũng phải tuân thủ luật pháp. Người ở cương vị càng cao thì càng phải tuân thủ phép nước. Tham nhũng không chỉ là chuyện vi phạm luật pháp mà còn là vấn đề đạo đức, phẩm chất của người cán bộ. Chính vì vậy, theo tôi, để ngăn chặn tình trạng tham nhũng như hiện nay thì trước tiên là việc phải xử lý thật nghiêm minh theo đúng tinh thần Pháp lệnh chống tham nhũng được Nhà nước ban hành hồi đầu năm. Thứ hai là phải đẩy mạnh công việc cải tổ hành chính tránh tình trạng nhiều cửa nhiều ngành lâu nay gây phiền hà cho người dân, và thứ ba là sửa đổi ngay một số văn bản luật pháp không còn phù hợp. Để góp phần hạn chế tình trạng tham nhũng, chúng ta còn cần phải làm sao cho đồng lương của công nhân viên chức có thể đảm bảo cho nhu cầu cuộc sống của gia đình. Muốn vậy, phải ra sức sắp xếp bộ máy hành chính tinh gọn, tránh những việc chi tiêu lãng phí, nhằm tạo điều kiện để cải thiện mức sống của đội ngũ cán bộ, viên chức.

Trần Hữu Dũng
Tháng 12, 1998

Chú thích

[1]Department of Economics, Wright State University, Dayton, Ohio 45435, USA
[2]Cũng vì lẽ đó, ở các quốc gia nhiều tham nhũng, mức đầu tư của nhà nước vào lĩnh vực xã hội, giáo dục và y tế thường là thấp hơn, và vào những công trình xây cất thường là cao hơn, mức đáng có.
[3]Nhờ đút lót, nhiều thành phần không đủ điều kiện cũng nhận phụ cấp của nhà nước, nhiều công trình vô ích cũng sẽ đuợc chấp thuận thực hiện …
[4]Nhiều người cho rằng một phần cội rễ những cuộc khủng hoảng tài chính gần đây ở Đông Á và Đông Nam Á là tình trạng tham nhũng ở các nước này.
[5]Như một bài trong báo Nhân Dân (13/7/98) gần đây nhận xét: “Nếu ở đâu, người muốn vào biên chế Nhà nước phải chạy chọt, mua “ghế”, thì khi đã đuợc ngồi vào ghế rồi, họ sẽ kiếm chác, tham nhũng để “thu hồi vốn” và không có ý thức coi trọng danh dự công chức Nhà nước”
[6]Tirole (1996) phân tích một mô hình kinh tế trong đó một người thanh liêm đuợc bổ nhiệm vào một nhiệm sở có “truyền thống tham nhũng” không chóng thì chày cũng sẽ tham nhũng.
[7]Xem mô hình Cadot (1987), Andvig và Moene (1990)
[8]Đặc biệt là Leff (1964).
[9]Theo thuật ngữ kinh tế học hiện đại, đây là hậu quả của tình trạng “thông tin không đối xứng” (asymmetric information).
[10]Xem thêm chi tiết trong Van Rijckeghem và Weder (1997)
[11]Xem bài của Cadot và những tài liệu dẫn chứng trong đó. Nhìn qua tiếp cận này, cũng phải có phần thưởng đặc biệt cho những công chức cán bộ thanh liêm cả đời, đó là cho họ có hưu bổng cao.
[12]Tiêu biểu là các khuyến nghị của nhiều tổ chức quốc tế như Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (OECD)
[13]Theo kinh tế học, dù thị trường có hoạt động thật trôi chảy, nó cũng không phân bố tài nguyên một cách tối hảo nếu một vài hoạt động sản xuất hoặc tiêu dùng có “ngoại ứng”, tức là gây ra lợi ích hoặc phí tổn cho những người ngoài kẻ mua hoặc bán hàng hoá hay dịch vụ liên hệ.
[14] Xin xem, chẳng hạn như, Bardhan (1997).
[15]Theo Schleifer và Vishny thì sở dĩ ở Liên Xô (cũ) không có nhiều tham nhũng như Nga Sô ngày nay là nhờ kỷ cương của Đảng Cộng Sản lúc đó. Song, ai nấy đều biềt, sự phung phí nguồn lực, kém hiệu năng của nền kinh tề chỉ huy ở Liên Xô (cũ) đã ra thế nào rồi.
[16]Cũng cần nói thêm là tiến trình tư hữu hóa, khi chính nó không bị tham nhũng và làm xí nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, có thể có hại cho cả nền kinh tế nếu xí nghiệp tư doanh kế tục sẽ có nhiều độc quyền kinh tế.
[17]Xem Kimberly Ann Elliott (1997).

THAM KHẢO

Andvig, Jens Christopher, và Moene, Karl O., 1990, “How Corruption May Corrupt” (Cách Tham Nhũng Gây Tham Nhũng), Journal of Economic Behavior and Organization, Tháng Giêng, Bộ 13, Số 1, tr. 57-94.

Bardhan, Pranab, 1997, “Corruption and Development: A Review of Issues,” (Tham Nhũng và Phát Triển: Duyệt các Vấn Đề) Journal of Economic Literature, Tháng Chín, Bộ 35, Số 3, tr. 1320-1346.

Cadot, Oliver, 1987, “Corruption as a Gamble,” (Tham Nhũng như là một Canh Bạc), Journal of Public Economics, Tháng Bảy, Bộ 33, Số 2, tr. 223-244.

Chand, S.K., và Moene, K.O., 1997, “Controlling Fiscal Corruption,” (Kiềm Chế Tham Nhũng Thuế Má), Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế WP/97/100

Đào Trí Úc, 1997, “Tham Nhũng: Nhận Diện Từ Các Khía Cạnh Pháp Lý và Cơ Sở Pháp Lý Mới,” Tạp Chí Cộng Sản, Tháng Hai, Sồ 4, tr. 24-28.

Elliott, Kimberly Ann, 1997, Corruption and the Global Economy (Tham Nhũng và Nền Kinh Tế Toàn Cầu), Washington D.C.: Institute of International Economics.

Huntington, Samuel P., 1968, Political Order in Changing Societies (Trật Tự Chính Trị trong các Xã Hội Đang Biến Đồi), New Haven: Yale University Press.

Lê Xuân Lựu, 1997, “Vì Sao Chống Tham Nhũng Không Hiệu Quả?”, Tạp Chí Cộng Sản, Tháng Ba, Số 5, tr. 37-40.

Leff, Nathaniel H., 1964, “Economic Development through Bureaucratic Corruption,” (Phát Triển Kinh Tế qua Tham Nhũng Quan Liêu) The American Behavioral Scientist, Tháng Mười Một, Bộ 8, Số 2, tr. 8-14.

Marshall, Katherine, 1998, “Combating Corruption in Indonesiaà Aide Memoire of the World Bank Team, September 13-20, 1998,” Wall Street Journal October 23, 1998.

Murphy, Kevin M.; Schleifer, Andrei và Vishny, Robert W., 1993, “Why is Rent-Seeking So Costly to Growth?” (Tại Sao Hoạt Động Tìm Tô Quá Có Hại Cho Tăng Trưởng?) American Economic Review, Tháng Năm, Bộ 82, Số 2, tr. 409-14.

Mauro, Paolo, 1995, “Corruption and Growth,” (Tham Nhũng và Tăng Trưởng) Quarterly Journal of Economics, Tháng Tám, Bộ 11, Số 3, tr. 681-712.

Mauro, Paolo, 1998, “Corruption: Causes, Consequences, and Agenda for Further Research,” (Tham Nhũng: Nguyên Nhân, Hậu Quả, và Chương Trình Nghiên Cứu Thêm), Finance and Development, Tháng Ba, tr. 11-14.

Mookherji, Dilip, và Png, I.P.L., 1995, “Corruptible Law Enforcers: How Should They be Compensated,” (Những quan chức tư pháp có thể tham nhũng: Làm sao Đền bù họ?) Economic Journal, Tháng Giêng, Bộ 105, Số 428, tr. 145-159.

Myrdal, G., 1968, Asian Drama (Thảm Kịch Châu Á), Quyển 2, New York: Random House.

Nguyễn Ngọc, 1995, “Vấn Đề Đạo Đức Trong Chống Tham Nhũng,” Tạp Chí Cộng Sản, Tháng Chín, Số 12, tr. 55.

Tanzi, Vito, 1995, “Corruption, Government Activities, and Markets,” (Tham Nhũng, Hoạt Động Nhà Nước, và Thị Trường,” trong The Economics of Organized Crime (Kinh Tế Học Về Tội Phạm Có Tổ Chức) do Gianluca Fiorentini và Sam Peltzman chủ biên, Cambridge: Cambridge University Press.

Tanzi, Vito, và Davoodi, Hamid, 1997, “Corruption, Public Investment, and Growth,” (Tham Nhũng, Đầu Tư Công, và Tăng Trưởng), Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế WP/97/139.

Tirole, J., 1996, “A Theory of Collective Reputation,” (Một lý thuyết về uy tín tập thể), Review of Economic Studies, Tháng Giêng, Bộ 63, Số 1, tr. 1-22.

Ul Haque, Nadeem, và Sahay, Ratna, 1996, “Do Government Wage Cuts Close Budget Deficits? Costs of Corruption,” (Nhà Nước Giảm Lương Thì Có Thu Hẹp Lạm Chi Ngân Sách Không? Những Phí Tổn Của Tham Nhũng), IMF Staff Papers, Tháng Chạp, Bộ 43, Số 4, tr. 754-773.

Viscusi, W. Kip; Vernon, J., và Harrington, J. E., 1995, Economics of Regulation and Antitrust (Kinh tế học về Điều Tiết và Chống Tờ rớt), Tái Bản Lần 2, Cambridge: MIT Press.

CHỈ SỐ VÀ THỨ HẠNG THAM NHŨNG Ở MỘT SỐ NƯỚC[r]
(Theo sự thăm dò ý kiến của tổ chức Transparency International)

Hạng

Quốc gia

Chỉ số năm 1997

Chỉ số năm 1996

1

Đan Mạch

9,94

9,33

2

Phần Lan

9,48

9,05

3

Thụy Điển

9,35

9,08

4

Niu Di Lân

9,23

9,43

5

Canada

9,10

8,96

6

Hoà Lan

9,03

8,71

7

Na Uy

8,92

8,87

8

Oxtralia

8,86

8,60

9

Xingapo

8,66

8,80

10

Luxembourg

8,61

11

Thuỵ Sĩ

8,61

8,76

12

Ai-rơ-len

8,28

8,45

13

Đức

8,23

8,27

14

Anh

8,22

8,44

15

Ixraen

7,97

7,71

16

Mỹ

7,61

7,66

17

Austria

7,61

7,59

18

Hồng Công

7,28

7,01

19

Portugal

6,97

6,53

20

Pháp

6,66

6,96

21

Nhật

6,57

7,05

22

Costa Rica

6,45

23

Chile

6,05

6,80

24

Spain

5,90

4,31

25

Hi Lạp

5,35

5,01

26

Bỉ

5,25

6,87

27

Cộng Hoà Séc

5,20

5,37

28

Hungary

5,18

4,86

29

Ba Lan

5,08

5,57

30

I ta lia

5,03

3,42

31

Đài Loan

5,02

4,98

32

Ma lai xia

5,01

5,32

33

Nam Phi

4,95

5,68

34

Hàn Quốc

4,29

5,02

35

Uruguay

4,14

36

Brazil

3,56

2,96

37

Romania

3,44

38

Turkey

3,21

3,54

39

Thái Lan

3,06

3,33

40

Phi Lip Pin

3,05

2,69

41

Trung Quốc

2,88

2,43

42

Ác hen ti na

2,81

3,41

43

Việt Nam

2,79

44

Venezuela

2,77

2,50

45

Ấn Độ

2,75

2,63

46

In đô nê xia

2,72

2,65

47

Mê hi cô

2,66

3,30

48

Pakistan

2,53

1,00

49

Nga

2,27

2,58

50

Co lom bia

2,23

2,73

51

Bô li via

2,05

3,40

52

Nigeria

1,76

0,69

[r]Hạng 1 (Đan Mạch) là ít tham nhũng nhất, v.v.

Người Việt tự ngắm mình – Tổng Quát

IV. Tổng quát

Chúng ta đã cùng tự soi mình qua cả trăm trang về những cái còn tồn đọng của người Việt. Những điều này không phải đến lượt tôi, hay một ai trong các bạn nghĩ được ra, mà đáng mừng thay, chính người Việt từ ngàn năm nay đã thấy được những thói hư tật xấu của mình qua các phương ngôn chỉ ra như: “Ăn xó mó niêu”, “Dở ông dở thằng”, “Nôm na mách qué”, “Đầu voi đuôi chuột”, “Cả vú lấp em”, “Ngậm miệng ăn tiền”, hay “Phép vua thua lệ làng”…

Tôi chỉ làm thêm cách hệ thống hoá, bổ xung, và đào sâu chúng bằng cái nhìn hệ thống, theo cách thức nguyên lý, và học vấn. ít ra tôi đã cố làm cái việc, mà mọi dân tộc trên thế giới đều nghĩ: Đứa con có hiếu đích thực của dân tộc, thì phải biết làm giầu có thêm tài sản vốn có của dân tộc. Còn lại chỉ biết sài sẵn của dân tộc chỉ là loại vô tài, đức nhỏ.

Giờ đây, để thâu lại cái nhìn tổng quát, tránh rơi vãi tản mạn, tôi xin được hệ thống hoá một cách nguyên lý vào vài điểm chính:

1. Về mặt con người: Người Việt có một vóc hình nhỏ bé, vóc của những người sống ở phương Nam ấm áp, sức vóc nhỏ, thì thể lực có hạn, lại thêm khí hậu nóng ẩm dễ mệt và dễ ngại, nên người Việt dễ rơi vào thói lười biếng lãn công, chốn việc, làm qua loa đại khái, khuất mắt trông coi, chốn công làm lãi. Vì vậy muốn làm được những việc lớn, người Việt hãy khắc phục khó khăn này. Ta nhỏ bé, ta chóng mệt, thì ta hay nghỉ rồi lại hay làm. Chớ trở thành lười nhác hẳn, “nghỉ một lần cho khoẻ”. Đặc biệt trong các công việc văn chương, nghệ thuật, hay khoa học… Ta nên tích gió thành bão, tích tiểu thành đại. Chớ đã làm cái nhỏ, từng tí một, lại còn ngao du, chơi bời, du hí, thì cả đời có thể chẳng đi được một đoạn đường trường nào cả.

2. Về mặt nghề nghiệp: Muốn tinh thông và đạt đến đỉnh cao của mọi nghề thì chẳng còn cách nào khác là phải đi vào chuyên nghiệp. Khi sở trường được phát huy cao nhất, tay nghề cũng cao nhất, và lợi ích cũng thu về nhiều nhất. Chớ nên chưa tính thông bất cứ việc gì lại cứ phải quay lại ngắm “nỗi lo về tiền”, hay muốn đi hai chân một lúc cả lợi – cả danh, cả tiền – cả đức, thì sẽ chẳng thể đi xa. Chúng ta hãy nhớ đến hình ảnh một chiếc máy bay dù hiện đại đến đâu có thể cùng lúc bay về cả phía đông lẫn phía tây. Thánh Gandhi có nói: “Phương tiện càng thuần khiết thì mục đích càng sớm đặt được”.

3. Về địa lý: Về điểm mạnh rừng vàng biển bạc tôi không khai thác, mà xin lưu ý vào các điểm yếu. Người ta nói “Người là hoa của đất”. Người Việt người nhỏ bé như vậy là “hoa” chưa lớn, lại thêm cả ngàn năm mới chỉ biết làm mấy vần thơ vụn, nhận thức chưa phát triển nhiều, như vậy “hoa” đó cũng chưa đậu quả nhận thức, lại thêm bệnh viêm phổi cũng như tê thấp rất phát triển, có nơi chiếm đến 80% dân số, tuổi thọ ở ta cũng chưa cao – nghĩa là “hoa” cũng sớm tàn… Vậy chúng ta hãy thử xem thể chất địa lý của mình. Xương cốt của dải đất hình chữ S chúng ta là dải Trường Sơn, chạy từ dãy Hoàng Liên Sơn xuống, chủ yếu là đá vôi (Marble) chứ chưa phải đá granit, vì thế cũng có ảnh hưởng lớn đến “gân cốt” của giống nòi. Lại thêm, anh bạn tôi một nhà chế tạo nhạc cụ có nói, đi suốt từ Bắc chí Nam, dù chặt cây phơi gỗ hay đục đá để làm đàn, khi gõ vào nguyên liệu của xứ ta đều chỉ thấy vang lên 5 âm (ngũ cung): Cung, giốc, thuỷ, truỳ, vũ. (Gỗ ở các vùng khác trên thế giới vang lên 7 cung bậc). Để hiểu điều này, các bạn hãy ngắm những chiếc đàn đá của người Việt.

Nêu lên điều này chỉ để tham khảo, bởi tôi không phải nhà khoa học về chuyên ngành này, nhưng sự kiện này nêu lên để tham chiến cái gọi là: điều kiện sống về mặt địa lý – có những điều rất hà khắc với người Việt. Từ thể trọng nhỏ, lại sống ở một vùng khí hậu, nóng ẩm dễ ra mồ hôi, cùng với các điều kiện bất lợi khác ẩn sâu từ trong lòng đất (chẳng hạn như núi đá vôi có thể gây chứng biếu cổ, chứng tê thấp), để chúng ta nhìn ra mà khắc phục cả tình trạng thể chất, cả hoàn cảnh sống của mình.

4. Con người văn hoá: Con người hiển nhiên phải có văn hoá. Nếu không có văn hoá thì con người chẳng khác gì con thú sống trong hang hốc nhà mình. Có nhiều định nghĩa về văn hoá nhưng có một định nghĩa sinh tử rằng: Văn hoá thiết yếu là ứng xử với người khác, cho người khác, và cùng người khác.

Một người chỉ ru rú trong ổ kén của mình có thể mặc thế nào cũng được, ngồi thế nào cũng xong, nhưng khi ở trước mặt người khác, người đó phải thể hiện con người “văn hoá cách chung” của mình.

Vì thế, “người khác” là điều kiện đầu tiên của văn hoá. Từ trong thần thoại Hy Lạp, người Hy Lạp cũng mở màn dạy dỗ “Hiếu khách” là đức đầu tiên quan trọng của mỗi người. Trong kinh Thánh, cũng có ghi lời của Đức Chúa trời rằng: Người ta phải biết yêu tha nhân như chính mình. Và phải biết mở cửa cho người khác: “Kẻ nào gõ cửa sẽ được mở”.

5. Con người công lý: Người khác là điều kiện đầu tiên của văn hoá, vì không có thứ văn hoá một mình trong xó tối. Người khác cũng là điều kiện đầu tiên của công lý, vì cũng chẳng có công lý cho một mình ai cả.

Và công lý, là lẽ sống lý trí của con người gặp con người. Theo các triết gia thì lý trí hiển nhiên sẽ gặp công lý. Người bán rau, rồi người bán củi, rồi người bán thịt, kể cả người bán xăng, và tài xế lái xe. Khi gặp nhau ở chợ đều tự biết quy giá hàng của mình trong tham chiếu chung với giá hàng của người khác. Đó là công lý, đến một cách tự nhiên. Chẳng hạn, người trồng rau luôn hiểu, không thể một cân rau lang đổi lấy một cân thịt lợn, vì lẽ, con lợn phải ăn nhiều cân rau mới có thể sản sinh ra một cân thịt.

Một xã hội không thể tồn tại nếu không có công lý. Công lý nói giản dị là cái lý của chung mọi người. Và một cá nhân không thể lành mạnh thực sự về tinh thần nếu không có lý trí.

6. Con người tình cảm: Tình cảm là mối dây kết buộc mọi người cũng như xã hội. Không có đời sống tình cảm không có gia đình, cũng chẳng có xã hội. Nhưng tình cảm không thể là chiếc chiếu hổ lốn đựng tất cả những gì dựa cậy, trục lợi lẫn nhau, mà trong tình cảm cũng phải có công lý (điều này hiện nay cũng rõ, cha mẹ, vợ – chồng, con cái đều phải có tư cách hợp pháp trong xã hội hợp hiến). Cha từ thì con mới hiếu. Chồng hiền thì vợ mới thảo. Thầy giỏi thì trò mới ngoan.

7. Con người của lương tri và tiến bộ: Khi con người biết sống vì người khác, tức là đã “xả kỷ hiến tha”, cũng là sống có văn hoá. Con người đó sống bằng tình cảm – nồng thắm trái tim – nhưng vẫn sáng suốt lý trí, và lại biết sống chung với mọi người trong tinh thần công lý. Đó là con người đã thoát khỏi đời sống tồn tại bình thường vươn đến các giá trị của lương tri và tiến bộ.

*

* *

Như vậy cuốn sách của tôi, dù viết khá nhiều điểm, nhưng có thể chỉ tụ về 7 điểm trên thôi. Đó là mỗi chúng ta hãy ý thức về: Con người lý thể của mình, sau đó là sở trường chuyên môn của mình, kết hợp với hoàn cảnh sống thuộc địa lý là đất đứng của mình, rồi tiến đến con người văn hoá, con người công lý, và con người tình cảm.

Nhưng cả bảy điểm trên có thể quy gọn thành hai điểm chính thôi: hãy biết sống và yêu trong tinh thần công lý. Cũng có nghĩa phải biết nâng đời sống của chúng ta lên một tầm lý trí mới. Nếu lý trí của mỗi cá nhân đều cao chúng sẽ gặp nhau trên đỉnh tháp công lý cao cả của mọi người.

*

* *

Để kết thúc cuốn sách, tôi xin nêu lại hai câu thơ mở đầu của Tản Đà:

Dân hai nhăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.

Chúng ta có thể tranh cãi, có thể đồng ý hoặc không, nhưng tôi xin nêu mấy câu hỏi để chúng ta cùng suy ngẫm.

1. Có bao người trong chúng ta trở thành quý ông, học giỏi đã đành, nhưng sau đó dùng kiến thức làm hành trang dấn bước vào hành trình cuộc đời.

2. Có bao nhiêu người kiên định theo đuổi sở học, chuyên môn theo sở trường của mình trọn đời để có thể nối con đường thành công từ bệ phóng (lúc mở đầu) đến đỉnh cao của thành đạt và vinh quang?

3. Có bao nhiêu người theo đuổi phẩm chất chuyên môn hơn là phẩm chất quan trường? Và coi thành công ở chuyên môn mới là thành công cao nhất của sở trường; chứ không phải lấy phẩm chất “số ghế” quan trường để thay thế chuyên môn?

5. Có bao nhiêu người coi trọng danh dự, lương tri, công lý hơn là sự lo toan giá áo túi cơm của cá nhân hay gia đình.

6. Có bao nhiêu người làm việc như một sứ mệnh của cá nhân cần thiết cho mọi người hơn là khoe khéo khoe khôn để kiếm danh lợi cho mình?

7. Có bao nhiêu người coi sự cao quý của đời sống tâm hồn là hạnh phúc hơn sự dồi dào vật chất tiện nghi cho thân xác?

*

* *

Hy vọng, những câu hỏi tôi nêu ra để chúng ta cùng đếm lại chính mình. Chúng ta cũng biết, kẻ “vô sỉ” là loại bất thành nhân. Người Nga nói: “Không sợ dốt chỉ sợ không muốn học” Sợ nhất là việc chúng ta không nhận ra những cái xấu của mình; còn sợ hơn, biết là xấu nhưng cố tình coi là nó không tồn tại.

Tôi viết cuốn sách này, bằng cách mở màn ngắm cái xấu của tôi, và của gia đình tôi. Và cũng là những quá trình tự gạn lọc mình. Mong được chia xẻ với mọi người trong tinh thần “Trung ngôn nghịch nhĩ”, nhưng mà “Thuốc đắng dã tật”, để chúng ta cùng gạn đục khơi trong, trở nên những con người đã mới thì mới hơn, còn đang cũ thì sẽ mới.

Khai bút: 19h 59’ , ngày 4/2/2003

(Mùng bốn Tết Quý Mùi)

Hoàn thành: Ngày 26/3/2003

(24/2 Quý Mùi)


Chú thích

1. Kinh Thánh

Sách Cô – rinh – tô 11 : 18

2. L M. Mor faux

L’Homme et le Monde, Paris 1977, tr 188.

3. Hegel

Mỹ học,Phan Ngọc dịch, Hà nội 1999, tr 329

4. nt, tập II, tr 779

5. Platon,La République,Gallimard 1993

6. Galli M.Tresdey, Karsten J.Struhl, Richard E.Olsen

The Philosophical Quest,“Truy tầm triết học”

Lưu Văn Hy, Nguyễn Minh Sơn biên dịch, NXB Văn hoá thông tin 2001, tr 346

7. L.M. Morfaux

An thropologie – Méta physique – Philosophie,Paris: 1997, tr 106.

8. Fransois Jullien

Fonder La Morale

“Xác lập cơ sở cho đạo đức”,Hoàng Ngọc Hiến dịch, NXB Đà Nẵng 2000, tr 200

9. Jean Guitton, Grichka Bogdanov, I gor Bogdanov

Dieu et la Science, Paris 1996

“Thượng Đế và khoa học”,Lê Dieu dịch, BXB Đà Nẵng 1996

10. Vương Sóc

Người đẹp tặng ta thuốc bùa mê,Vũ Công Hoan dịch, NXB Văn hoá Dân tộc 2002, tr 161

11. Như số 5, tr 33

12. Tôn Trung Sơn

Chủ Nghĩa Tam Dân,Nguyễn Như Diệm, Nguyễn Tu Tri dịch, Viện Thông tin khoa học xã hội 1995

13. Như số 10.

14. Bá Dương
Người Trung Quốc xấu xí,
Nguyễn Hồi Thủ dịch – Paris 1997

Người Việt tự ngắm mình – Thể hiện nhiều, thực hiện kém

V.22. Thể hiện nhiều, thực hiện kém

Trước năm 1975, khi đất nước chưa thống nhất, ở phía Nam có lời một bài hát như sau:

“Bao nhiêu kiểu mới đưa sang
Việt Nam mà bắt chước
Còn hơn, hơn nước ngoài”.

Tại sao chúng ta lại hay bắt chước? Câu trả lời vẫn là: Chúng ta thiếu khả năng phát minh của lý trí, nên đành phải dùng trực cảm để bắt chước.

Vậy tại sao chúng ta thích thể hiện? Vì thể hiện là cách bày tỏ những thể thức bề ngoài, nó tương tự như cách nhìn người khác mà bắt chước nên chúng ta thường chuộng kiểu này. Đơn giản như các gánh hát hiện đại chẳng hạn, người phương Tây, làm gì đều có chức năng thực hiện từ trong xương tuỷ, họ la réo, hú, gầm khi hát để bộc lộ những cảm xúc của mình. Câu nào cần đau khổ thì ca sĩ phải cất cao giọng hát như muốn vỡ tim. Trái lại, người Việt thường quan niệm, ca nhạc là loại hình giải trí, nên chớ có hát mà đau đầu nên hát chùng thôi, thế là có biết bao gánh hát, tập hát những bài của Tây, nhưng lại hạ giọng chùng xuống. Than ôi, điệu bộ thì bắt chước người ta nhưng tâm hồn của người lên cao trào thì ta lại đòi thư giãn, thành ra nhảy múa thì loạn xạ vẻ hùng mạnh. Nhưng lời cất lên lại ẽo uột “nửa dơi nửa chuột”, nom đúng là cách “tâm hồn ăn cỗ trên chân tay”.

Hay như nạn đua xe máy chẳng hạn, ở Tây có những đua trường để người ta có thể thoả mái xưng hùng – xưng bá – “xưng mạo hiểm”. Đằng này ở ta, nhiều thanh niên lại diễn trò thao diễn ngay trên đường phố, làm khổ nhiều người.

Nhưng đề mục này đặc biệt có liên quan đến giới tri thức văn học nước nhà. Xứ ta thấy nghe nói làm thơ là “thiên sứ của lời”, thế là cũng đua nhau làm thơ. Nhưng than ôi kể từ thời Thơ Đường đến nay đã trên 1500 năm, người Trung Hoa cũng “bỏ xó” Thơ Đường lâu rồi, ở ta vẫn cứ hà hít là “hay lắm”. Nhưng họ đâu có quan niệm cái hay của nó nằm ở nghệ thuật, mà là ở chỗ nó chỉ có vài câu quá thích hợp với sự lười nhác bé bỏng của mình.

Đến khi, thế giới có chuyện ngắn mi-ni, thì cũng đua nhau viết, vì chuyện mi-ni rất hợp tạng với kẻ vừa yếu vừa lười. Đã thế còn đua nhau phát triển truyện ngắn không có cốt chuyện. Sao người ta không từng biết, triết gia Aristote, đã coi cốt chuyện (story) là yếu tố đầu tiên của văn chương, cũng như người Việt xưa nay đều quan niệm “có tích mới dịch nên trò”. Thực ra người ta thích truyện không cốt chuyện vì nó phù hợp với thể tạng tuỳ tiện, lười biếng của người ta.

Rồi chưa viết nổi tiểu thuyết, thấy thế giới nói “tiểu thuyết đã chết”, thế là ào ào nói theo: Tiểu thuyết đã chết! Rồi thấy thế giới bảo: “phản lý trí”, thì cũng đua nhau nói phản lý trí. Than ôi, chúng ta đã từng có nhiều lý tri đâu mà đòi phản nó. Như các nhà mỹ học nói: “Chỉ khi nào ta dứt áo rời khỏi nhà thì mới có lúc tận hưởng giờ phút trở về”. Thiếu lý trí, chỉ sống duy cảm, vậy mà nghe người khác nói “phản lý trí” thì cũng ùa theo nói: Lý trí đã chết, và:

Lý luận thì mầu xám
Cây đời mãi mãi xanh tươi.

Thực ra nhiều người nói thế, để khoả lấp, để xuê xoa, để nuốt chửng vấn đề người ta chưa từng sống lý trí. Triết gia Socrate cho rằng: “Không có một biến cố nào tai hại cho một con người cho bằng nó thù ghét lý luận”. Thù ghét lý luận là thù ghét cái cao nhất của nhận thức. Chính điều này cũng đã được thể hiện qua các sinh hoạt chính trị cao nhất của nước nhà rằng: Các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, và các cơ quan ngôn luận, cần phải nêu cao, tăng cường hơn về lý luận.

Thấy người ta diễn kịch, mình cũng diễn kịch, thấy người ta đóng phim mình cũng đóng phim. Nhưng người ta đóng như thật, còn ta đóng phim sợ người xem khi xem không biết mình là diễn viêm, nên đóng phải “lộ đuôi” là đang diễn. Than ôi!

Thấy người ta, viết thơ, viết truyện ngắn, viết tiểu thuyết thì cũng bắt chước, nhưng than ôi, người ta thể hiện những nội dung sống trong tác phẩm của mình, còn ta ngoáy, bới, ám thị hết trò nọ đến trò kia. Mong được nổi tiếng như “diễn viên” nhà thơ, nhà văn.

Thấy người ta đỗ tiến sĩ ngành nọ ngành kia, ta cũng đua nhau làm bằng tiến sĩ. Làm tiến sĩ mà không viết nổi một tiểu luận về chuyên ngành mình nghiên cứu thì làm làm gì?

Thấy người ta làm lý luận, thì ta không chịu làm, vì chỉ quen “dễ làm khó bỏ”. Thêm nữa làm lý luận phê bình thì chỉ khen người này chê người khác, khen hay chê cũng chỉ cho người, như vậy lòng ích kỷ của ta không được mân mê nắn bóp nên không làm. Nhưng không làm, thì không phải kẻ khác được làm, mà phải bị ra sức chê bai đố kỵ: sao chẳng có ai chịu làm lý luận phê bình? Không có nước làm sao có cá? Mỗi cá nhân còn không trau dồi trong đầu lý trí cho phê bình, thì làm sao có thể nói chẳng có con cá voi phê bình nào bơi cả? Phê bình là gì? Là phán xét, là phân đẳng cấp, kẻ cao – người thấp. Nhưng tự thân cảm thấy mình thấp bé, cũng tất nhiên thôi vì con người không trau dồi lý trí làm sao lớn được, nên loại bỏ lý luận phê bình ra khỏi đời sống văn nghệ, để ù xọe, ai cũng như ai, “xấu đều còn hơn tốt lỏi”, cho dễ chui lủi, và dễ sống.

Ngay cả thất nghiệp cũng có nhiều trình độ thất nghiệp. Thất nghiệp ở những nước công nghệ cao, là những công nhân đã được đào tạo tay nghề, khi bị thất nghiệp có thể vẫn ngồi đợi ngoài dây chuyền sản xuất, thấy ai bị đau ốm thì có thể vào thay thế. Tóm lại, đó là những người có “nghiệp” mà tạm thời “thất”. Nhưng thất nghiệp ở xứ ta, hầu hết là những người chưa qua đào tạo, chưa biết làm gì, nên chưa có cả “nghiệp” để mà “thất”.

Đó là thất nghiệp bàn về nội dung cũng như hình thức, cũng là bàn cái thực hiện bên trong và cái thể hiện ra ngoài. Nhìn một người cầm cuốc trong lao động đơn giản ta khả dĩ thể hiện ngay giống như anh ta. Nhưng nhìn một người cầm vô lăng ô tô, thì sự thể hiện không hề đơn giản chút nào, không thể cứ cầm vô lăng xoay qua xoay lại, vớ vẩn chạm phải chìa khoá khởi động, xe lao đi, toi mạng như không. Cũng vậy nhìn người ta cầm bút, thể hiện cầm lấy ngay cũng dễ, nhưng để thực hiện viết văn, làm thơ, hay phát minh những công trình thì thiên khó vạn nan, người cầm bút phải chất chứa thiên kinh vạn quyển trong đầu. Thế vẫn chưa đủ, người Pháp nói: “Cái đầu biết hành động quý giá hơn cái đầu chỉ đầy ắp chữ” (Mieux vaut une tête bien faire qu’une tête bien pleine).

Sự thể hiện và thực hiện khác nhau như hoa nhựa và hoa thật. Hoa nhựa có mọi thứ như hoa thật có và giống hệt mẽ bề ngoài, chỉ tội không có sức sống ở bên trong và hoa thật có sức sống, có hạt mầm ở trong, nó có thể lên mầm một cây hoa mới lớn gấp tỷ lần, cây ấy lại tiếp tục ra hạt mãi mãi không ngừng. Vậy thì nhìn nhà văn, nhà thơ (Các nhà khoa học nữa), thì thấy dù nổi tiếng đến mấy cũng chỉ viết được vài chục truyện ngắn, mấy tập thơ mỏng đến mức con kiến nằm vắt ngang gáy bìa không đủ chỗ, hay viết được một cuốn tiểu thuyết “một lần vắt kiệt thành bã”, còn các cây bút trẻ thì hầu như không có ai có được bóng cây toả lan sau tuổi ba mươi, khiến mọi người phải nghĩ đây là những măng non chặt sớm đòi đóng nhãn xuất khẩu nên không lớn thành tre được, hay là hạt giống đem đồ thành xôi – làm oản để ăn ngay nên không thể gieo hạt, hoặc những bông hoa chưa kịp nở đã tàn… Như vậy đủ thấy các cây bút ở ta phần đông mới chỉ viết ở mức thể hiện, mà chưa đạt đến tầm “thực hiện”.

Viết văn phải thực hiện những gì? Tri thức sống! Khát vọng sống! Thực tại sống! Lý tưởng sống! Nhân cách sống! Phẩm chất sống! Nhưng các nhà văn xứ ta hầu hết mới chỉ bày tỏ một ít hiện thực sống và ao ước sống. Ao ước chưa phải là khát vọng! Mà mới giống người thuyền chài lười biếng thả lưới lại nằm ao nước có con chim rụng cánh xuống thuyền mình, thế là chỉ cần nướng lên ăn. Có không ít nhà thơ, viết được vài bài thơ ngắn trong tầm trang giấy, mà đã ước ao biết đâu lúc nào trúng số độc đắc, giải Nobel sẽ rơi vào giữa những vần thơ tinh lọc của mình. Hay có nhà văn, viết được một cuốn sách, mà hàng năm đến kỳ xét giải Nobel lại cùng bầu bạn uống rượu chờ đợi biết đâu đó ban giám khảo đã bỏ phiếu cho ta. Thật là hy vọng hão huyền. Các giải thưởng lớn không bao giờ người ta chỉ bỏ phiếu cách cầu may, mà người ta phải xét duyệt quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn đó. Nhưng mới chỉ có một cuốn sách làm sao thấy được quá trình? Nhiều cây bút “thấp bé nhẹ cân” sở trường chơi đồ hàng thường biện hộ: “Hay cốt gì dài”.

Tại sao người ta không biết, không lớn sao thành đại dương. Người Việt vẫn nói “Vét nồi ba mươi cũng đầy niêu mốt” hay:

Sống lâu mới biết đêm dài
Ở lâu mới biết lòng người có nhân.

Trong một khoảnh khắc, trong vài vần thơ để làm một cú thăng hoa dễ lắm, nhưng mọi sự đồ sộ, vĩ đại ở đời đều được hình thành nhờ cấu trúc. Một phân tử ADN của sự sống thôi đã là một cấu trúc vô cùng phức tạp. Nhưng chớ có biện hộ, nhỏ như một phân tử còn sắp đặt kỳ diệu đó thôi, mà các phân tử ADN, sau khi đã tự sắp đặt mình, đã sắp đặt cả một vũ trụ sự sống bát ngát mênh mông.

Những điều lý giải trên không thể nói chơi. Mà là, chưa nói đến chúng ta chưa có những cây bút vĩ đại, chỉ cần đòi hỏi chúng ta có những cây bút chuyên nghiệp, nhà nghiên cứu chuyên nghiệp thôi, đã vô cùng khó rồi. Thậm chí là một sự kiện hi hữu đến mức gần như bất khả.

Người Việt nói: “Một nghề cho chín, hơn chín mười nghề”, hay “Sinh nghề tử nghiệp”, còn người Anh nói: “Đá lăn không lên rêu”. Sự nghiệp văn chương nghệ thuật hay khoa học là một sự nghiệp lớn giành cả đời hành hương chưa chắc đã đi trọn con đường của cá nhân vạch ra để tiệm cận cùng nhân loại, vậy mà lại không chuyên nghiệp, bạ chỗ nào tiện rẽ ngang chỗ đấy, vui đâu chầu đấy, thỉnh thoảng khi rỗi mới đi vào trục lộ của mình, thì sẽ thắng tiến được bao nhiều?

Bởi chính thế mà chúng ta mới chỉ có những nhà văn nghiệp dư, nhà thơ nghiệp dư, nhà khoa học nghiệp dư… Tất cả mới ở mức lo thể hiện cho giống người, mà chưa biết thực hiện để vận động chức năng đích thực cho cuộc đời sống thật.

Người Việt tự ngắm mình – Đầu voi đuôi chuột

21. Đầu voi đuôi chuột

“Đầu voi đuôi chuột” là câu nói lột tả rất mạnh mẽ cung cách làm ăn của người Việt, nghĩa là mở màn thì khởi sự công việc to như đầu voi, sau đó làm việc cứ thắt dần – thắt dần, bé dần – bé dần, thành ra cuối cùng bé như đuôi chuột.

Tại sao lại có hệ quả như vậy? Đây cũng là hệ quả tất yếu thôi, vì như chúng ta đã tìm hiểu người Việt sống rất yếu ớt trong việc suy lý và duy lý. Muốn làm bất cứ việc gì ở đời, thì bộ não phải sản sinh sự hướng đạo cho cơ thể, sau đó miệng phải ra mệnh lệnh, cuối cùng mới đến chân tay hành động. Như người Việt hiện đại có một câu tục ngữ: “Tư tưởng không thông vác bi đông không nổi”.

Nhưng tư tưởng cũng như chính kiến của người Việt nói chung là chưa có thói quen được đào luyện trở thành vạm vỡ, ngôn ngữ thì ấp úng thiếu mạch lạc “tháng ba cũng ừ tháng tư cũng gật”, vì thế hành động không có lý trí để minh định và gìn giữ chủ kiến, nên thành ra cứ làm kiểu “đầu to đít bé”, thậm chí làm qua loa đại khái, tồi tệ hơn là làm kiểu “trăm voi không được bát nước sáo”.

Về chuyện thiếu lý trí dẫn công việc từ to thành nhỏ, người Việt vẫn hay kể câu chuyện, đẽo cày giữa đường. Ông kia, mang khúc gỗ ra bên lề đường đẽo cày. Thế là người đi xuôi nhận xét một câu, vì không có chủ kiến ông liền đẽo theo cách họ bày; người đi ngược lại nói cách khác, vì không tự tin vào mình ông cũng liền đẽo theo ý họ. Rút cục ông cứ đẽo mãi, đẽo mãi, khúc gỗ nhỏ hơn cả một cái thìa. Thế là, ông đành đẽo nó thành một chiếc chìa vôi, chỉ to hơn chiếc tăm một tẹo, dùng cho các bà ngoáy vôi ăn trầu.

Cũng chuyện tự tin vào lý trí của mình, người phương Tây có chuyện. Chàng hoạ sĩ kia vẽ một ông tướng, và đem bày bán ở giữa chợ. Liền có một người đi qua bảo, đôi giầy không giống lắm. Chàng hoạ sĩ hỏi ra, mới biết người nhận xét đó làm nghề đóng giầy. Chàng liền cám ơn ông thợ đóng giầy rất thành tâm, và sau đó lấy bút vẽ sửa lại đôi giầy. Khi chàng hoạ sĩ đã vẽ lại xong đôi giầy, thì ông đóng giầy kia liền lên giọng nói, còn chỗ này chưa giống, chỗ kia vẫn sai. Chàng hoạ sĩ liền bảo với ông thợ giầy: “Thưa ông, ông đã đi quá xa đôi giầy của mình rồi đó”.

Đấy, khi có lý trí và vững chuyên môn thì người ta biết nghe đến đâu và làm đến đâu. So sánh thì thấy, do thiếu yếu tố duy lý trong mọi lĩnh vực của đời sống, người Việt thường làm các việc từ “đầu voi” thành đuôi chuột.

Khi nói người Việt còn yếu kém về lý trí, chúng ta chớ nên khoác lấy mặc cảm tự ái. Ngay nước Nhật rất giầu, rất tiên tiến về khoa học kia trước Đại chiến thế giới hai, vào thời “Minh Trị duy tân” (1852 – 1912), người Nhật cũng đã xác định, nước Nhật muốn phát triển hùng cường, thì điều quan trọng nhất phải phát triển sự duy lý và ý thức khoa học. Nghệ thuật bị đặt xuống hàng thứ yếu.

Người Việt tự ngắm mình – Tính khí thất thường: mai nắng – trưa mưa – chiều nồm

V.20. Tính khí thất thường: mai nắng – trưa mưa – chiều nồm

Lý trí bao giờ cũng tiến đến nguyên lý hành động cốt yếu của mỗi người, cũng như xã hội. Khi lý trí yếu, lại chỉ sống nhờ vào những cảm xúc nông nổi, thì hiển nhiên con người sẽ sống theo những phản xạ “dễ làm khó bỏ”, chúng thay đổi, và bồng bột. Người Việt có hàng loạt các câu tục ngữ, ca dao để diễn tả lối sống “được chăng hay chớ” này. Chúng ta vẫn biết, đời sống lý trí rất quan trọng vì nó quy định: đó là đời sống của ông chủ. Còn đời sống của cảm xúc tuỳ tiện “được chăng hay chớ” chỉ quy định trình độ sống còn ở mức bản năng – con sen thằng ở.

Người Việt nói: “Mai nắng, trưa mưa, chiều nồm”, là muốn nói khí hậu ở xứ ta phức tạp; sáng ra thì nắng, trưa thì mưa, chiều lại trở gió nồm, còn tối và đêm không biết gió gì. Nhưng câu nói trên cũng chỉ hạng người thay đổi như chong chóng, lúc thế này lúc thế khác. Lý trí không có mặt để ấn định cho mình một chủ kiến nhất định.

Từ sự thay đổi “thời tiết’ như vậy, người Việt cũng chỉ ra những lối sống nhỏ bé “Ăn xổi ở thì” như:

- “Gió chiều nào che chiều nấy”.

- “Nước đến chân mới nhảy”.

- “Vui đâu chầu đấy”.

- “Theo đóm ăn tàn”.

- “Giậu đổ bìm leo”.

- “Đắm đò giật mệt”.

Về mặt sinh học, chúng ta đều biết, những loài sinh vật thấp kém thì nhiệt độ cơ thể thay đổi theo nhiệt độ môi trường. Nhưng tạo hoá tạo ra con người là một sinh vật cao cấp ưu đẳng khác hẳn các sinh vật khác ở chỗ, nhiệt độ cơ thể của con người không thay đổi theo nhiệt độ của tự nhiên. Cũng vậy, con người biết sống có chính kiến, lập trường, và lựa chọn thì hơn hẳn con người sống vật vờ được chỗ nào hay chỗ nấy. Sống được chăng hay chớ là lối sống vất vưởng của kẻ hèn kém, tha phương cầu thực, miếng ăn của mình phụ thuộc vào việc người khác cho mình nhiều hay ít. Như người Việt cũng xác định, hạng người đó chỉ có thể “theo đóm ăn tàn”, “theo voi hít bã mía”.

Trái lại người làm chủ thực sự phải là: có trồng cây có hái quả, “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”. Triết gia Hegel cho rằng, con người sống xứng đáng thực thụ, phải là người: Mình vẫn là mình trong hoàn cảnh chống lại mình và hoàn cảnh càng bất lợi với mình thì càng chứng tỏ ý chí làm người kiên định của mình. Người Việt chẳng nói đó thôi:

Lửa thử vàng
Gian nan thử sức.

Người Việt tự ngắm mình – Nịnh trên, đạp dưới, đá ngang

V.19. Nịnh trên, đạp dưới, đá ngang

Người Việt có câu:

Lười hay cười nụ
Cả vú thích vuốt ve.

Tại sao, lười hay cười nụ? Vì cười để mọi người xí xoá cho mình. Chính vì thế mà người Việt còn nói: “Cười cầu tài”. Tài thức là tiền. Cười kiểu đó là cười vụ lợi, làm dối, làm ẩu, làm quấy quá sau đó cứ diễn những nụ cười cầu tài. Người ta cười cầu tài nhiều đến mức, nhiều nhà dân gian hiện đại đã dùng cụm từ “nhe răng thường trực”. Nghĩa là có những người cười và cười, mọi nơi mọi lúc, mong người ta xí xoá cho mình hết cái này đến cái khác. Người Việt cười cầu tài nhiều đến mức, các nhà ca dao hiện đại đã đặt vè.

Ăn nhanh, đi chậm, hay cười
Hay mua đồ cũ là người nào đây?

Cười cầu tài cũng là cười nịnh, ra vẻ ta thân tình lắm, ta cởi mở lắm với mọi người, và xin mọi người hãy nương tay hoặc ưu tiên cho công việc tồi hay sản phẩm xấu của ta.

Nhưng ở đời, đã nịnh với trên thì lại ra vẻ hoạnh họe với kẻ dưới. Nịnh với người trên để vụ lợi. Nạt nộ kẻ dưới để ra oai. Các nhà xã hội học phát hiện rằng, những đứa trẻ con chơi trò dạy và học, thì rất nhanh rã đám, bởi vì đứa nào cũng muốn được làm thầy giáo, cô giáo, ra tay bắt học sinh phải trả lời thế này thế nọ, làm cho đứa làm học sinh phải bị vâng lời đâm ra chóng chán. Như vậy cái bản năng quyền lực của con người đã nảy sinh một cách rất tự nhiên từ thời thơ ấu. Triết gia Aristote nói rằng: “Con người là một động vật xã hội”, và cũng còn có câu “Con người là một động vật chính trị”. Điều đó cũng thật hiển nhiên và lô gíc, vì chính trị đóng vai trò trọng tâm nhất của hệ thống xã hội. Như vậy quyền lực trong ý nghĩa chính đáng là động năng vận động tốt lành của một xã hội. Khi đó người có chức quyền cao là người được chọn trong sứ mệnh cao hơn người, để thực thi chức năng giúp hệ thống công quyền hoạt động. Đó vừa là giá trị vừa là văn hoá của quyền lực.

Đằng này, với không ít người, quyền lực chỉ đơn giản ăn trên ngồi chốc người khác, hưởng bổng lộc hơn, viết văn, làm thơ, vẽ, làm phim thì dễ được giải thưởng. Chúng ta hãy quay trở lại trò chơi “dạy và học” của trẻ con. Trò chơi rã đám, vì ở đó, một cách tự nhiên, những đứa trẻ đã thích ăn trên ngồi chốc các bạn, và cũng bởi đó ý nghĩa “vì người khác” bị hạ thấp. Một trò chơi để mọi người cùng vui, lại chỉ giành cho một vài đứa vui vì được ra lệnh, còn những đứa khác phải buồn khi thấy mình lủi thủi vâng lệnh bạn như con ở. (vì vậy trẻ con thường chuyển sang trò chơi bán hàng – mua hàng, cách đó bình đẳng hơn, vì thuận mua vừa bán).

Vì nếu ai cũng muốn ăn trên ngồi chốc, thì sẽ sinh cảnh cạnh tranh. Người Việt có câu ca dao hiện đại: “Căng da lưng chùng da bụng”. Đó là những kẻ thấy người mạnh hơn mình thì gập mình xuống nịnh bợ để được nâng đỡ tiến thân, vì thế mà da lưng cứ căng lên, còn da bụng thì gấp lại. Chưa hết, nhìn thấy kẻ yếu hơn mình thì đạp lên đầu mà đi. Còn những kẻ ngang mình, thì tìm cách phá ngang. Bởi thế mới có câu tục ngữ hiện đại chỉ lối cạnh tranh tiến thân là: “nịnh trên, đạp dưới, đá ngang”.

Về việc ích kỷ, đố kỵ, chèn ép, kéo kẻ ở trên xuống, không muốn cho ai hơn mình, người Việt có một câu chuyện tiếu lâm hiện đại rằng: Tổ chức cảnh sát quốc tế xây dựng một trung tâm tạm giam quốc tế, để bắt giữ tội phạm của các nước. Ông giám đốc ra lệnh cho các nhân viên rằng: nhà giam của tội phạm các nước cần làm tường và mái chắc chắn. Vì nếu không làm vậy, chúng sẽ công kênh trèo lên vai nhau, chuồn ra ngoài. Nhưng nhà giam cho các phạm nhân người Việt thì không cần mái, vì có đứa nào sắp leo lên khỏi tường thì sẽ bị chính đồng bọn của mình lôi xuống. Vì chúng không muốn cho ai hơn mình, theo cách sống đã hằn sâu trong óc: “Chết một đống còn hơn sống một mống”.

Câu chuyện của người Việt nghĩ ra tự giễu cợt chính thói ích kỷ của mình, rất đáng để chúng ta cùng nghĩ ngợi.

Người Việt tự ngắm mình – Ích kỷ, đố kỵ. trâu buộc ghét trâu ăn

V.18. Ích kỷ, đố kỵ. trâu buộc ghét trâu ăn

Trong gia đình, vì người trên ích kỷ chỉ tính cái lợi cho mình, nên con cháu chẳng còn cách nào khác là đem cái tính toán vụ lợi cho mình thi thố ngoài thiên hạ. Xưa kia người Trung Quốc có câu: “Kẻ chỉ tính lợi cho mình sẽ hại đến gia đình, kẻ vụ lợi cho nhà mình sẽ hại cho xóm giềng, kẻ vụ lợi cho xóm giềng sẽ hại đến xã tắc, kẻ vụ lợi cho xã tắc sẽ hại đến thiên hạ”.

Chúng ta đã biết, kết quả vụ lợi cho cá nhân mình, cho nhà mình, và cho làng mình, mà dẫn đến: “Phép vua thua lệ làng”. Người Việt vẫn nói: “ích kỷ hại nhân”. Vì sự vụ lợi cho mình mà hại đến người khác. Có thể nói nhìn đâu cũng thấy sự ích kỷ manh mún của người Việt.

Ngay ở trung tâm Hà Nội, tôi thường xuyên được chứng kiến cảnh thế này. Sau khi nghe xong buổi hoà nhạc cổ điển, những khán giả đổ ra bãi xe máy. Việc đầu tiên, hầu hết người nào người nấy khởi động nổ máy, rồi vội vàng lao ra cửa. Nhưng ai cũng làm vậy nên dồn tắc lại. Cả đám đông, nói chung thuộc giai tầng văn hoá cao nhất xã hội, những người đã yêu thích nhạc giao hưởng, thính phòng, vậy mà tất cả lại “tự giác” nổ máy, cam chịu ăn khói và nghe tiếng nổ giữa một bãi xe tắc nghẽn đông cứng lại. Có một điều đơn giản, thay vì nổ máy để người khác phải ăn khói và nghe tiếng nổ, tại sao chúng ta lại không chịu khó dắt xe qua cổng, để người khác không phải ăn khói của xe mình, cũng như mình không phải ăn khói của xe người khác? Câu trả lời có phải vì trình độ văn hoá của chúng ta còn khá thấp, và trình độ ích kỷ còn khá cao? Còn những việc khác, uống xong một lon bia, người ta quẳng nó ra giữa đường, như vậy rác của ta đã trở thành rác của xã hội. Hay quét nhà, vớ được con chuột chết, người ta cũng quẳng nó ra ngoài đường, ném ra đó để “cha chung không ai khóc”. Hiện nay, ở nhiều thành phố, đâu cũng thấy cảnh này, người ta xây nhà to, cao, nhưng chỉ trừ mặt tiền người ta làm rất đẹp, nhưng ba phía kia quét hắc ín để chống ẩm, và họ cứ bày cả ba mảng tường đen xì đó kệ cho hàng xóm và thiên hạ thưởng thức. Một hình ảnh vừa ích kỷ, vừa nghèo hèn, xây được cái nhà to đến vậy, mà còn nhất định chỉ quét sơn phía trước cho mình đi ra đi vào, mặc kệ phía còn lại. ích kỷ biểu hiện cao độ là “Sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi”, như nạn “đinh tặc” xảy ra mới đây chẳng hạn, có một số kẻ đã rải các loại đinh xuống đường, để phá lốp các xe máy đang chạy tốc độ cao, nhiều xe thủng lốp, mất tay lái gây tai nạn, mà mục đích kẻ rải đinh, chỉ định kiếm chút công ăn việc làm bằng công vá săm cắt cổ. Còn sự ích kỷ tắc trách lớn thì không thể lường hết hậu quả của nó. Như cầu chui Văn Thánh hai chẳng hạn, do bị ăn bớt vật liệu, công xây dựng, mà cầu mới xây xong đã rạn nứt xuống cấp, gây nguy hiểm cho khách qua lại cũng như cả một bộ phận lớn của dân cư xung quanh. Mới đây, còn có cả những chuyện, người ta bắc cả những cây cầu giá cả tỉ đồng qua những khúc sông không có đường đi, và chiếc cầu vừa to, vừa dài, vừa chắc đó, chẳng để làm gì ngoài việc nó lý giải cho một khoản tiền thụt két nào đó. Lợi cho mình – hại mặc người, là mục đích theo đuổi của rất nhiều người ích kỷ, như các hợp đồng mua máy bay cũ, hay thuốc tân dược hết hạn sử dụng, hoặc các hợp đồng lao động ép giá công rẻ mạt khác… Để kiếm tiền lời – chia đôi bỏ túi cả tỷ, còn mặc người đi máy bay mất an toàn, hay người uống thuốc dởm mắc tai nạn, cũng mặc kệ. Những việc trông thấy đã vậy, còn những việc khó trông thấy, còn xảy ra vô cùng khuất tất. Chẳng hạn một cỗ máy đắt tiền mua về đắp chiếu bỏ đấy, một hợp đồng nhiều tiền đã được thực thi, nhưng có một chi tiết máy, hay một chi tiết nào đó thuộc chức năng hoặc lý do không vận hành, thế là cả cỗ máy nằm mơ cũng không có ấy, trở thành một đống sắt nằm liệt vị.

Còn một sự ích kỷ đại trà hiện nay là quan hệ yêu đương trai gái. Thôi thì cảnh bê tha, nguyền rủa nhau xảy ra ở khắp nơi. Vì nhiều trai thanh gái lịch, sinh ra trong các gia đình, bố mẹ tính toán ích kỷ chỉ nghĩ lợi cho mình, nên bước ra đời họ cũng chỉ lo tính toán cho mình. Đặc biệt trong thời buổi kinh tế thị trường ngày nay, tính thực dụng phi nhân của nhiều người càng phát triển. Nạn trục lợi, trục lạc trong quan hệ khác giới hoành hành một bộ phận rất lớn của xã hội. Khiến nhân cánh tha hoá đến mức báo động. Chàng kia trục lạc nàng sau đó bỏ rơi nàng trong nhà y tế – đang lo nạo thai, rồi sau đó bị nàng nguyền rủa không tiếc một lời nào. Hay nàng nọ đưa chàng hoặc vài chàng vào trong ống ngắm của một máy tính nhẩm, trục hết các lợi ích của chàng, sau đó thải chàng vào trong sọt rác như chưa từng quen biết, khiến chàng phải rủa “đúng là đàn bà nan hoá”. Triết gia J.P Sartre có nói “Đam mê là trách nhiệm”. Vì đam mê giới tính giữa chàng với nàng là một mối liên kết con người sâu xa nhất, bởi thế nó cần phải được thực thi bằng một trách nhiệm nhân bản nặng nề và nặng tình nhất. Người Trung Quốc quan niệm: “Hạnh phúc” là muốn hưởng Phúc thì Phải tròn bổn phận. Như người Việt quan niệm:

Có vất vả mới thanh nhàn
Không dưng ai dễ cầm tàn che cho.

Không trồng cây sao đòi hái quả. Trong quan hệ yêu đương, cả tiền yêu đương là khi lựa chọn có thể có – có thể không và hậu yêu đương là khi chia tay, con người muốn hưởng lạc thú tình yêu, thì cần phải biết thực thi những bổn phận của mình, chớ để phải trở thành nạn nhân bị nguyền rủa của con tim.

Nạn đố kỵ ở ta, xảy ra vừa đại trà vừa mạnh mẽ, với nhiều hình thức. Có khi thấy con lợn hàng xóm lớn nhanh hơn lợn nhà mình cũng tức. Thấy hàng xóm xây nhà cũng tức. Hay thấy con cái người thành đạt cũng tức. Trước kia trong chiến tranh, ở địa phương nào cũng gặp cảnh, nhiều gia đình có giấy gọi đi học đại học, hoặc đi nước ngoài thì bị đường dây xã, thôn, xóm giữ lại; nhưng trái lại khi có giấy gọi nhập ngũ thì được đưa rất nhanh. Việc thẩm tra lý lịch cá nhân cũng vậy. Nếu điều tra để cháu đi bộ đội hay thanh niên xung phong thì nói chung “anh này tốt”, nhưng điều tra để đi học nước ngoài hay vào Đảng thì “anh này còn nhiều vấn đề lắm, hình như thế nọ, hình như thế kia”, người ta nói ra rất nhiều những thứ khẩu thiệt vô bằng. Tình trạng đố kỵ mạnh đến mức, ở nhiều miền quê, hay miền núi, chi bộ Đảng trong mấy chục năm không có nổi một Đảng viên mới nào, nếu có một vài Đảng viên trẻ tuổi thì số này đã thoát ly, đi bộ đội, hay công tác, vào Đảng ở đơn vị và cơ quan, chuyển sinh hoạt Đảng về quê. Tại sao có tình trạng đó? Vì mấy ông Đảng viên già không muốn chia quyền lợi lãnh đạo địa phương cùng những người trẻ tuổi xông xáo hơn, không muốn nhìn các Đảng viên trẻ ngồi cùng chiếu với mình, nên cùng tâm không phát triển Đảng vào giới trẻ.

Tình trạng “trâu buộc ghét trâu ăn” diễn ra tràn lan khắp nơi, đó là thứ tâm lý tiểu nông cỏn con, manh mún gây cản trở rất nhiều cho sự phát triển của toàn xã hội. Tình trạng này càng trở nên gay gắt hơn, khi tính chuyên môn ở ta còn chưa được nâng cao, nền nông nghiệp chưa phân hoá thành các nghề đa dạng như thủ công nghiệp, hay công nghiệp hoá. ở đầu cuốn sách chúng ta đã bàn về tính “sở trường” và chuyên môn hoá. Một cô hàng thịt bán hàng cạnh một cô hàng rau, cạnh một cô hàng muối, cạnh một cô hàng xén, cạnh một cô bán hàng giải khát, thì sự cạnh tranh gần như không có. Vì lẽ người ta vừa muốn mua thịt, vừa muốn mua rau, mua muối, và uống nước. Nhưng nếu các cô không biết mở quán theo sở trường của mình, thấy hàng hoa có lãi chẳng hạn, liền đổ xô vào buôn bán hoa, sẽ dẫn đến cạnh tranh, đố kỵ khủng khiếp.

Lâu nay, và bây giờ vẫn còn khá phổ biến công thức tiến thân của một con người là: học xong kiếm một việc làm trong hệ thống nhà nước, người lo trau dồi chuyên môn thì ít, người lo leo ghế thì nhiều, kết quả gây quá tải trong các cơ quan công quyền, làm cho sự cạnh tranh đố kỵ thiếu lành mạnh càng ngày trông giống con đường một mất – một còn, quá hẹp, chỉ lo tiến thân bằng sở đoản hơn là thực thi những chức năng có sở trường.

Người Việt tự ngắm mình – Gia trưởng độc đoán

V.17. Gia trưởng độc đoán

Người Việt nói: “Sợ người ở phải, hãi người cho ăn” Người ở phải là người sống đúng đắn, hiển nhiên đã có sức mạnh của sự thật và công lý. Người đó mạnh đến mức có thể làm kinh hãi cả đám gian thần và nịnh thần dù đông nhung nhúc. Chính vậy một triết gia đã nói: “Mình tôi với chân lý là đa số”. Điều đó có nghĩa là, bất cứ cá nhân nào sống theo lẽ phải và chân lý thì họ có sức mạnh còn lớn hơn cả số đông sai trái. Chính vì điều này mà Bao Thanh Thiên nổi tiếng thanh liêm – công chính, đã đúc kết nhiều vụ án của ông qua một câu nói: “Đạo người không bằng đạo trời”. Đạo trời, chính là công lý của vũ trụ kết hợp với nhân sinh trong các nguyên lý của sự thật. Trong khi đó, đạo người ỷ đông, ỷ mạnh, có nhằm nhò gì. Người Trung Quốc cũng chứng tỏ sức mạnh của công lý mạnh như lưới trời: “Thiên vòng khơi khơi sơ nhi bất lậu” (lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt).

Vì sống thiếu chính đáng, lẽ phải, và công lý, con người thường phải tụ bạ bấu víu đan kết theo lối bè lũ vào nhau. Nhưng sự đan kết đó rất yếu, vì khởi sự người ta cần vụ lợi nên cấu kết với nhau, nên sau khi đã cấu kết người ta vẫn tiếp tục tính toán vụ lợi cho mình. Kết quả, sự móc nối vụ lợi lẫn nhau sẽ mục ruỗng và tan rã. Nếu còn chỉ là hình thức cấu kết hờ, cực chẳng đã. Chúng ta hãy bàn vào gia đình hạt nhân, cha mẹ, vợ chồng, con cái, tưởng là góc trú ẩn nhiều yêu thương nhất, nhưng ở đó nó cũng khơi ra những tính toán ích kỷ đến cay nghiệt. Nơi đó còn thế, nữa là các kiểu cấu kết, tụ bạ hờ.

Gần đây, xứ ta, nổi lên có nhiều vụ cha giết con, con giết cha rất đau lòng. Còn các vụ cha mẹ bán con gái lấy một chút tiền thì đếm khôn kể. Chẳng hạn, có hai chị em gái mới qua tuổi vị thành niên, bị mẹ bán sang Cam-pu-chia, mới được vài năm phải phục vụ thú vui thân xác cho đàn ông để kiếm sống, hai chị em đã thân tàn ma dại, bị công an bắt, rồi được thả về quê. Về đến quê nhà, cái mà hai chị em này sợ nhất là phải nhìn thấy mẹ mình, kẻ đã đẩy hai chị em vào con đường địa ngục.

Đấy chỉ là sơ sơ nêu lên tính sự kiện. Nhưng cái ích kỷ của gia đình người Việt là một căn bệnh nhức nhối, bị di hậu trong cả ngàn năm, theo tinh thần xã hội và giáo dục, cũng như lề luật. Mở đầu, thời phong kiến đã bắt người ta phải nhất nhất tuân theo:

“Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung,
Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”.

Nghĩa là: Vua xử bề tôi phải chết, nếu không chết là bất trung. Cha xử con chết nếu không chết là bất hiếu. Thôi làm vua một nước xử thần chết là phải chết, ta chưa cần bàn. Đằng này trong gia đình, là cha thôi đã toàn quyền bắt con chết là phải chết.

Chưa hết, tất cả quyền định đoạt sống chết đó được trao cho tất cả những ai sống ở trên, như cha, như anh. Sau cha là đến anh cũng oai không kém “Quyền huynh thế phụ”. Và làm em thì phải nhịn nhục “làm em ăn thèm vác nặng”. Làm thân con trai đã thế, làm thân con gái thì nhục trăm bề, phải theo Tam Tòng: “Tại gia tòng phu, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, nghĩa là ở nhà theo cha, xuất giá theo chồng, chồng chết theo con. Vì quyền lực áp đặt từ trên xuống dưới, từ nam xuống nữ đến thế, nên mới nảy sinh tình trạng độc đoán, gia trưởng của người cha với con cái, và người mẹ đối với con gái con dâu. Nào là:

Cha nói oan
Quan nói hiếp
Chồng có nghiệp nói thừa

Hoặc là:

Muốn nói ngoa làm cha mà nói
Muốn nói không làm chồng mà nói.

Còn phía phụ nữ thì: “Giặc bên ngô không bằng bà cô bên chồng”.

Tình trạng độc đoán giá trưởng còn lộng hành cho đến ngày nay. Có rất nhiều đàn ông đã bỏ áo the khăn xếp, nhưng hoàn toàn nghĩ, sống, và hành xử như những thủ lĩnh phong kiến mặc đồ tây. Có không ít cha mẹ vẫn tìm cách “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, áp đặt chuyện hôn nhân, làm xảy ra khá nhiều các vụ quyên sinh của đôi tình nhân “chúng ta không lấy được nhau thì thà chết còn hơn”. Mà lý do, để cha mẹ ép gả, nhiều khi chỉ là những tham lam, tính toán vị kỷ vơ vào cho mình hết sức vặt vãnh tầm thường, như xưa nay người việt vẫn chỉ rao:

Mẹ tôi tham thúng xôi rền
Tham con lợn béo, tham tiền cảnh thưng
Tôi đã bảo mẹ rằng đừng
Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bưng ngay vào.
Bây giờ chồng thấp vợ cao
Như đôi đưa lệch so sao cho bằng

Hay là:

Cha mẹ đòi ăn cá thu
Gả con xuống biển mù mù tăm tăm

Để tham một cuộc hôn nhân cho mình, chứ không phải cho con:

Có con gái gả chồng gần
Có bát canh cần nó cũng đem cho
Hoài con mà gả chồng xa
Một là mất giỗ, hai là mất con

Xưa kia, người ta đẻ nhiều, thôi thì cứ gả con gái cho ai cũng được, miễn là nhà giầu để kiếm được tiền sính lễ nhiều. Giờ đây, mỗi gia đình chỉ được phép đẻ hai con, nên nhiều cha mẹ không chỉ tham giầu, mà còn tham con lấy chồng gần, để thỉnh thoảng chạy qua chạy lại làm “ô – sin”(nhân vật làm người ở của phim Nhật) cho bố mẹ. Nhiều gia đình, con cái đã tốt nghiệp đại học, mà không để con có cả cơ hội cư xử như người có học. Cha cấm cửa con cái. Ra chào khách hộ con, khi tiễn cũng tiễn hộ con. Rồi bản thân vừa làm thuyết khách vừa làm kế “phản gián” cả hai chiều. Với chàng trai, nếu không ưng, ông ta nói: “con tôi nó chẳng ưng anh đâu!” Rồi với con gái ông bố bảo: “Anh ấy chẳng coi con ra gì đâu! Thiết gì mà nghĩ đến loại đàn ông đó”. Nếu sự thể đôi uyên ương càng xích lại gần nhau, thì cha mẹ lại càng thao diễn những trò gian dối, nói này, nói nọ, đâm ra chầy của để phá cho bằng được.

Chỉ vì cha mẹ nói ngang
Làm cho đũa ngọc mâm vàng xa nhau.

Ngăn cấm con cái đã đành, nhiều khi lại đơm lời đặt tiếng cho con cái, khiến cho người ngoài đánh giá con mình không có cả lương tâm. Thật là quá ích kỷ. ích kỷ thứ nhất là không cho con cái được sống một cách đường hoàng ngay trong nhà mình, ra vào tiếp khách không được phép, khép nép như thứ con ở. ích kỷ thứ hai là sẵn sàng bôi nhọ tâm hồn con để làm lợi cho mình. Một lần, tôi đi qua một quán nước nằm đầu ngõ hẻm. Thấy hai cha con nhà kia chửi nhau:

- Cha thì bê tha, rượu chè, vạ vật lè nhè chủi: “Tao đẻ mày ra, mày không được hỗn”.

- Đứa con là thứ lang thang, vật vờ vì thiếu bàn tay quan tâm của cha mẹ, trả lời như đã suy nghĩ từ lâu: “Tôi cũng cóc cần là con ông. Ông xem, người khác có bố thì được trông cậy, được thơm lây, còn tôi, có bố là một nỗi nhục. Tôi đếch cần nỗi nhục ấy”.

Thế đấy, vậy mà, có nhiều cha mẹ khi không bắt ép dược con cái dựng vợ gả chồng theo ý mình thì liền bảo: “Tao từ mày, coi như tao chưa đẻ ra mày”. Thật là ấm ớ và vớ vẩn. Có một sự thật lớn nhất là cha mẹ đã lấy nhau. Mẹ đã mang thai con chín tháng mười ngày, đã đẻ con ra, sự thật đó được cả vũ trụ chứng nhận, vậy mà họ sẵn sàng từ chối sự thật đó, thử hỏi có gì liêm sỉ mà họ không dám làm?

Cũng vớ vẩn không kém, nhiều bậc cha mẹ đụng một tí là đuổi con ra khỏi nhà. Theo pháp luật, thì nhà đó có cả phần của đứa con trong đó, tại sao mình lại có quyền đuổi nó. Đặc biệt với các gia đình được cấp nhà, cho đôi vợ chồng có giấy hôn thú, rồi cho con ngay từ lúc đẻ ra – làm giấy khai sinh, thì cha mẹ chúng làm gì có quyền đuổi con ra khỏi nhà, khi mà chính con họ cũng có quyền dự phần trong ngôi nhà đó.

Khi cha mẹ ức hiếp quyền sống của con cái, thậm chí coi con cái như phương tiện sống cho mình, cũng là các triết gia, đặc biệt là triết gia Kant và Hegel, gọi đó là hình thức bị coi như nô lệ, thì những đứa con không dám phản đối lại, nhưng gây ra những chống đối ngầm, hay bí mật tích luỹ ích kỷ cho riêng mình. Lịch sử của Trung Quốc và Việt Nam, đầy rẫy các chuyện trong cung đình, anh em tróc nã, giết chóc, giành giật quyền hành lẫn nhau. Còn ở thứ dân thì các bi kịch xảy ra, tuy không khốc liệt bằng, nhưng cũng đầy những tai ương “nồi da xáo thịt”.

Sự ích kỷ trong gia đình người Việt biểu lộ một cách rõ nhất, khó mà chối cãi qua cách sống: “Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào”. Đó cũng là lối sống thích hợp và tương ứng với kiểu “Ăn xổi ở thì”, “Nước đến chân mới nhảy”, hay sống ngày nào qua ngày đó. ở phương Tây, người ta có nhiều chai rượu cất đến vài trăm năm, nho từ đời ông ủ đến đời chút – chít, mới đóng vào chai. Hay có những khúc gỗ làm đàn mua rất đắt tiền, lại ngâm nước qua mấy đời, từ ông, qua cha, đến cháu, rồi chít mới đem ra làm đàn. Hay trong rất nhiều ngành sản xuất khác, hoặc trong việc để lại tài sản cho con cái, người phương Tây thường có cách đầu tư lâu dài cho các thế hệ sau. Chẳng hạn, khách du lịch thăm Mát – xcơ – va, có những đường phố ở trung tâm, xưa kia chỉ làm cho xe ngựa đi, vào lúc mật độ dân số còn thưa thớt, vậy mà những lớp con cháu hiện đại của họ giờ đây vẫn thấy rất thênh thang. Đúng là đời ông, đời cha làm, cho con cháu không phải làm lại nữa. Trái lại đường xá, nhà cửa ở xứ ta mới làm vài năm đã phải cơi nới, đập đi xây lại để phù hợp với chức năng mới. Thật đúng là, không những lớp con cháu không được hưởng lộc của cha ông, mà còn “đời cha ăn ốc đời con đổ vỏ”.

Cách sống ích kỷ của ông cha, mới kiếm được vài xu, đã tìm cách lấy vợ bé, mua rượu về chén chú chén anh, mặc kệ đời con “đời cua cua máy đời cáy cáy đào”, đã dẫn đến sự ích kỷ không kém tàn nhẫn của lớp con em. Thời hiện đại, không ít những người nghĩ rằng: “cha mẹ già chỉ là thứ phân bón cho đời con”. Nghĩ mà rùng mình!

Người Việt tự ngắm mình – Một trăm cái lý không bằng một tý cái tình

V.16. Một trăm cái lý không bằng một tý cái tình

Chúng ta đã bàn, lý trí và ngôn ngữ tương tác lẫn nhau. Ngôn ngữ phát triển, lý trí mới phát triển. Và ngược lại, lý trí phát triển, trí tuệ mới dùng lời để biểu đạt mọi chức năng của nó. Xưa nay, lời là kinh sách, là giáo luật, rồi là hiến pháp, pháp luật cũng như quy tắc ứng xử của mọi quốc gia và sắc tộc. Lời là Công lý

Vì không dùng lời để tiến đến lý trí và công lý, nặng về cãi vã hoà cả làng, không minh định nổi chẳng ai đúng, cũng chẳng ai sai, không có công lý làm chỗ tựa vững mạnh cho mình, nên người Việt thiên về co cụm, bấu víu, và đan kết trong tình cảm. Mở màn người ta xác định vị trí bất khả xâm phạm của gia tộc như “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Rồi sau đến đơn vị quần tụ xóm làng “Bán anh em xa mua láng giềng gần”. Và sau đó đề cao cái làng của mình lên trên hết nào “Tình làng nghĩa xóm”, nào quanh quẩn gần nhà “xểnh nhà ra thất nghiệp”, rồi

Ta về ta tắm ao ta
Dù trong hay đục ao nhà vẫn hơn
Hay là:

Lấy chồng khó giữa làng
Hơn lấy chồng sang thiên hạ

Và rồi tuyên bố thẳng thừng, dù thế nào, làng ta phải là oai nhất về mọi lẽ: “phép vua thua lệ làng”.

Như vậy, về mặt khoa học nhân chủng, cũng như nhân bản người Việt còn ở trình độ khá âu trĩ. Về mặt khoa học chúng ta biết, càng dựng vợ gả chồng trong những quan hệ gần gũi nhau như trong một làng, thì càng đẻ ra những đứa con còi cọc, ốm yếu, thiển năng. Thiết nghĩ đó cũng là một lý do khiến giống người Việt đã bé lại càng bé. Trái với cách sống ở Việt Nam, người ấn Độ chẳng hạn, trong nhiều làng, họ cấm trai trong làng được bén mảng đến gái cùng làng dù có yêu thầm nhớ trộm thế nào, trai gái cùng làng cũng không được lấy nhau. Mà gái làng ta giành cho trai làng khác. Và trai làng ta phải ra thiên hạ mà kiếm vợ. Như vậy, những đứa con được ra đời từ gien bố ở các xa gien mẹ, nên to lớn mạnh khoẻ.

Tính co cụm, móc nối, cách hẩu là một căn bệnh rất nặng của người Việt, thể hiện ra ở địa phương nào cũng trầm trọng, nó vừa làm phân tán vừa làm suy yếu tính hiệp nhất của quốc gia. Ngay cả thánh thần cũng bị họ chia ra của làng này hay của làng kia, như:

Chuông làng nào làng ấy đánh
Thánh làng nào làng ấy thờ.

Mới đây, còn xảy ra cả vụ tranh thờ các thánh để vụ lợi ngay ở địa bàn giáp ranh hai tỉnh Hà Tây và Hà Nam. ở bên Hà Tây có đền Đức Thánh cả. Bên Hà Nam, thấy bên đó có người đi lễ rầm rập, buôn vàng, bán mã, bán đồ cúng lễ rất phát đạt, liền rào dậu không cho khách thập phương đi qua địa phận làng mình. Sau đó nhái lại làm một đền Thánh cả giống bản nguyên như đúc để lôi kéo khách thập phương đến cúng lễ, mong kiếm lời (đây là tin được đưa trên truyền hình tháng 3/2003).

Trong mọi việc vì không giải quyết theo lý mà chỉ lụy tình, người Việt thường có thói quen : người càng thân ta thì càng đúng hơn. Thậm chí có việc người nhà ta, người làng ta, người cơ quan ta sai lè lè, không còn cách nào khác, người đứng ra bênh vực bảo: “anh này cũng đúng, anh kia cũng chẳng sai”. Vì thế mọi người mới có kiểu xưng hùng xưng bá địa phương: “Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng”. ở phương Tây có một cầu thủ vấp phải một cầu thủ của đối phương. Trọng tài phạt thẻ đỏ cầu thủ của đối phương, và cho đội của anh này một quả phạt đền. Lẽ ra anh này phải rất mừng cho mình cũng như đội nhà, được ăn không quả phạt đền của đối phương, nhưng cầu thủ này lại ra sức nói hộ cho bên đối phương – là họ không phạm lỗi. Sau sự kiện này, báo chí đăng tin rầm rộ khen ngợi tấm lòng yêu lẽ phải – ngay thẳng của cầu thủ nọ. Một cầu thủ, trình độ văn hoá có hạn mà đã có cư xử cao cả đến vậy, là cách mà chúng ta nên suy nghĩ.

Nhưng khi đã cậy gần nhà để có người bênh, thì những con người đó đi sang làng khác, địa phương khác lại mất thiêng, không có ai bảo vệ nữa, cho nên dù có đúng – có phải cũng trở thành yếu đuối. Đấy, cái kiểu “công lý người làng” hay “công lý tình cảm” yếu ớt đến vậy, ra khỏi làng, là bị phụ thuộc ngay “công lý của làng khác”.

Chưa hết, sự cấu kết tình cảm sẽ trở nên hết sức yếu đuối, khi người ta tập trung lại để ỷ thế chiếm ưu thế so với người khác, nhưng ngay trong nhóm sẽ xảy ra, ai cao nhất, ai thấp nhất, ai được làm ông chủ – ai phải hầu hạ, ai được lợi và ai bị thiệt? Người ta không minh định nổi vì không có công lý. Thế là người ta đành giở võ vị kỷ, ức hiếp, thủ thế lẫn nhau. Để phản ánh tình trạng này, người Việt có câu: “Chung nhau thì giầu, chia nhau thì khó”. Và chính lúc chia phần mới là cái lúc “cùng dục vọng thì tranh giành, cắn xé, lấn lướt nhau”.

Nhìn vào đời sống, lúc nào cũng có thể thấy ngay tính dễ liên kết dễ xé lẻ của người Việt. Chúng ta vẫn gặp, nhiều người chỉ cần mua một chiếc kẹo, hay bơm một lốp xe, người ta đã xưng hô ngọt xớt “mẹ cho con cái kẹo” hay “bố xem cho con lốp xe”… Chưa quen mà người ta đã xưng hô quá thân mật để làm gì? Để mong người khác có thể lấy rẻ cho mình vài hào, vài giá. Gặp những cảnh đó, có ông già liền nói thẳng “tôi có đẻ ra anh đâu mà là bố anh?”… Ông già đấy cũng khôn, vì ông biết được cái thân tình dễ có thì cũng dễ bị hất bỏ. Có anh vừa câu trước còn gọi “bố già bán cho con cái này, cái kia”, được lúc sau đã chửi “đ. mẹ thằng già”.

Con người có thân thì phải có sơ, có quen thì có lạ. Từ lạ đến quen phải có quá trình. Chưa quen mà hạ giọng thân tình như ruột thịt là cánh trục lợi. Chúng ta vẫn biết, như loài cầm thú thôi, con chó muốn trông nhà tốt, thì không phải bạ ai cũng làm quen. Vì kẻ trộm mới lần đầu muốn làm quen thì trước hết quẳng thức ăn cho chó (có khi đánh bả), sau đó nhổ nước miếng cho chó liếm coi như đưa ra “thông điệp mùi”, để tối tao có quay lại đào tường khoét ngạch ngươi đã quen hơi bén tiếng rồi thì đừng có sủa. Như vậy có lạ – có quen, trước lạ sau quen là một quy trình rất tự nhiên. Con người chớ nên muốn trục lợi mà đòi vượt tắt qua chặng này, mong lấy cái tình xoa đi cái lý. Cũng còn những kiểu xưng xưng mọc mọc khác chẳng hạn, đến nhờ hay mua của người ta cái gì liền dở ngay võ tình cảm đã rồi, như: “Cháu biết mà, bác nỡ gì cư xử xa cách với cháu, bác coi cháu như người nhà ấy mà, bác bán cho cháu cái xe này khác gì nhượng lại cho con, cho cháu…” Cứ thế màn diễn văn này cứ lặp đi lặp lại cho đến khi nào người bán phải bán rẻ mới thôi.

Người Việt tự ngắm mình – Được ăn, được nói, được gói mang về

V.15. Được ăn, được nói, được gói mang về

Chúng ta, đã bàn khá dài về lời ăn tiếng nói của người Việt. Điều này rất hệ trọng, vì ngôn ngữ là biểu hiện của trí tuệ – cũng là lương tri, và là nhân cách của con người. Người Việt ví:

Người thanh tiếng nói cũng thanh
Chuông kêu sẽ đánh bên thành cũng kêu.

Hay cũng còn nói:

Chuông khánh còn chẳng ăn ai
Nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bụi tre.

Chuông kêu ngân nga, vì được làm từ phẩm chất bằng kim loại quý, như đồng, có thể pha thêm vàng hay bạc. Như vậy, tiếng chuông đã thể hiện từ trong ra ngoài, kim loại tốt thì tiếng cũng hay. Con người cũng vậy, một triết gia có nói, “Ngôn ngữ là thế giới của một con người, thế giới của anh ta thế nào thì ngôn ngữ thế ấy”. Một nhà khoa học chẳng hạn, ngôn ngữ nhất khoát phải có những từ thuộc khoa học chuyên ngành, một nhạc sĩ thì phải có lời đựng nhạc, một giáo sĩ phải có lời thuộc về tôn giáo, một con buôn thì phải sặc mùi tiền. Để đánh giá một con người, người Trung Quốc cũng coi âm thanh là quan trọng nhất qua câu: “Nhất thanh, Nhị sắc, Tam hình”. Tướng mạo con người chỉ là thứ yếu. Sắc diện như mầu da cũng là thứ yếu. Chỉ có âm thanh là cái biểu đạt từ trong ra ngoài sẽ là chính xác nhất. Người quảng đại không thể có ngôn ngữ cay độc, người nói láu táu không thể có tư duy sâu xa chững chạc.

Lời nói phản ánh nhân phẩm của con người, nên người đời mới khen ngợi những lời nói của người biết trọng nghĩa là “nói như dao chém đá”, “nói như đinh đóng cột”. Người Trung Hoa cũng cho rằng mỗi lời nói có nhân cách thì phải hệ trọng “một lời nói nặng tựa chín đỉnh”. Và lời nói không thể bừa bãi được nếu không sẽ chẳng có cách nào vớt lại danh dự của con người: “Nhất ngôn xuất ký, tứ mã truy nan” (Một lời nói ra, bốn ngựa khó đuổi). Cùng một cách nghĩ, lời nói là hệ trọng mà người Việt bảo: “Sẩy chân còn hơn sẩy miệng”. Và

Trăm năm bia đã thì mòn
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Người phương Tây quan niệm về ngôn ngữ rất trực tiếp, cụ thể, và mạnh mẽ rằng: “Ngà voi không thể mọc từ miệng chó, lời khôn ngoan không xứng miệng kẻ hèn”. Như vậy, họ thẳng thắn chỉ ra, ngôn ngữ là chính con người. Ngôn ngữ cao trọng thì người cao trọng. Ngôn ngữ hèn hạ, ấp úng thì người cũng hèn hạ vớ vẩn.

Trong những trang trước chúng ta đã bàn về nhược thiểu của lý trí, cũng như sự tính toán dùng lời để “mồm miệng đỡ chân tay” hơn là để tư duy, nên ngôn ngữ của nhiều người Việt rất kém (đặc biệt, chúng ta hãy quan sát phóng viên truyền hình lẫn những người được phỏng vấn, họ thường hay nói vấp và ấp úng). Giờ chúng ta hãy bàn trực tiếp đến cách người Việt dùng lời nói để vụ lợi “được ăn, dược nói, được gói mang về”.

Ăn cũng cho miệng! Nói cũng cho miệng! và gói mang về cũng là để giành cho miệng! Có thể nói sinh hoạt cỗ bàn là sinh hoạt quan trọng nhất của người Việt. Dù rước thánh này, hay thánh khác, tiết mục tối hậu quan trọng nhất là hạ thủ lợn, hạ gà, hạ xôi oản xuống để chia ra các mâm. Lễ hội này quan trọng cả về thực phẩm lẫn tâm hồn. Nhưng như câu nói trên chỉ ra, tất cả sự thể hiện trọng đại của một bữa tiệc là qui về mồm.

“Được ăn, được gói mang về” thì dễ hiểu rồi. Nhưng cái đáng bàn là được nói. Người Việt khi đến các nơi gặp gỡ, hội họp, thì muốn dùng ngôn ngữ khoe mình hơn là trình bày ý tưởng. Vả lại trong câu “được ăn, được nói, được gói mang về”, có nghĩa, ai cũng được phần ăn – không sợ mất, ai cũng được phần nói – không sợ thiệt, và ai cũng được gói đem về. Như vậy, ngay cả khi nói, người Việt cũng coi đó là một quyền lợi để chia chác. Có nhiều người đến bữa ăn, sợ mất phần nói, nên kể hết chuyện nhà, chuyện vợ, chuyện con. Họ có thể nói cả mấy giờ đồng hồ, về con họ thích kẹo gì, mặc mầu nào. Khoe khéo khoe khôn cho mình chưa hết, lại khoe khôn cho cả con mình còn chưa kịp lớn, thật hết cửa đề người khác nói. Bởi lẽ trẻ em dù có giỏi thế nào cũng chưa thể là người thành đạt, như người Việt bảo:

Còn hàn vi biết ai hay dở
Trải phong trần mới rõ khá hèn.

Nên khi nghe người đàn ông kể về con mình, người khác cực chẳng đã phải nghe, chẳng lẽ chen nói vào lại mang tiếng đố kỵ với cả trẻ con. Kiểu nói không đối thoại, tràng giang đại hải một cách cố tình, là lối “cướp diễn đàn” của nhiều người. Thôi thì cứ nói chuyện tằm tăm bông bống gì cũng được, miễn là cứ nói tràn cung mây, không cho ai nói xen vào, kẻo họ lại khoe khéo khoe khôn hơn cả mình, hoặc lộ ra mình là người dốt.

Nói chuyện, lấy lời để lấp lời, lấy những thông tin vụn vặt để che phủ lên khát vọng của tri thức, thì làm sao mà trí tuệ lớn lên được. Cho dù con ta có giỏi, nhưng cháu vẫn còn bé, cháu làm sao có thể sống hộ ta những vấn đề đòi minh giải và hiểu biết. Chúng ta thử hình dung, một người học xong đại học, sau đó mấy chục năm, đi đâu anh ta cũng thao thao bất tuyệt về những lời vô thưởng vô phạt, thì trí tuệ có lớn lên không? Suy rộng ra, cái lối không dùng lời để tư duy, mà chỉ nói thao thao “cả vú lấp miệng em”, đã làm cho trí tuệ của dân tộc ta phát triển đến mức nào? Chúng ta hãy nhìn xem, có phải cả 1500 năm nay, từ khi trí giả Việt Nam nho nhe làm thơ Đường, cho đến nay chỉ có mỗi một tiểu thuyết lịch sử ra hồn là “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” của Ngô Thì Chí, còn lại là toàn thơ là thơ. Mà hầu hết chỉ gồm những bài ngăn ngắn trong vòng một trang giấy bày tỏ những cảm xúc tủn mủn đời thường. Và trong đó chỉ có một nhà phê bình thơ – nghĩa là người phát triển tư duy luận lý trong thơ là Hoài Thanh xuất hiện. Than ôi, cả nghìn, cả vạn, thậm chí ngót triệu nhà thơ, mà chỉ thấy có một con người nhìn văn học bằng con mắt của tư duy. Điều đó có nói lên trình độ tiến bộ về nhận thức của chúng ta rất thấp, thậm chí dường như dậm chân tại chỗ!

Tại sao có tình trạng đó? Ngôn ngữ là những hạt ngọc của tâm hồn, mà nó lại được dùng như một món trang sức ngụy tín, vô bổ, vô thưởng – vô phạt, vô vị, thì làm sao có thể giúp lý trí tiến bộ! Có một nhà tư tưởng nói: “Kẻ man trá về ngôn ngữ sẽ dẫn đến tàn tật về tri thức, méo mó về nhân cách”. Khi dùng lời chỉ để nói những câu chuyện sáo rỗng, thì một con người khó mà trưởng thành, anh ta sẽ mãi mãi chỉ là một đứa trẻ vừa bẻn mép vừa to xác. Và khi càng nói không có nội dung thì càng hoang mang. Càng hoang mang sợ một lời của người khác nặng tựa chính đỉnh sẽ nhấn chìm những lời bọt bèo của mình, thì lại càng nói, để khoả lấp tất cả quỹ thời gian. Đó cũng là một hình ảnh lớn của văn học Việt. Một ngành dù còn rất bấy – rất yếu nhưng cũng đang đóng vai trò rất lớn trong đời sống nhân văn của dân tộc.

« Bài viết cũ hơn

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.