Ý nghĩa lịch sử của tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh

Nguyễn Đức Sự

Kỷ yếu Hội thảo khoa học về Phan Châu Trinh tháng 9-1992

Đã từ lâu, mỗi khi nhắc đến Phan Châu Trinh chúng ta thường gắn tên tuổi của ông với chủ nghĩa cải lương mà ông theo đuổi trong suốt cuộc đời hoạt động của mình. Mà chủ nghĩa quốc gia cải lương dù mang nội dung yêu nước đi nữa cũng ít gây được thiện cảm đối với mọi người. Điều đó ảnh hưởng đến sự đánh giá vị trí của Phan Châu Trinh trong lịch sử cách mạng nước ta, mặc dầu ông là một sĩ phu thiết tha yêu nước, suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp cứu nước. Sự thực, chủ nghĩa cải lương của Phan Châu Trinh là một hiện tượng nổi bật trong xã hội Việt nam vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XX. Nó chứng tỏ Phan Châu Trinh rất quan tâm đến sự tiến bộ và tương lai của nước nhà. Chính vì vậy mà ông muốn cải tạo xã hội Việt Nam lúc đương thời theo con đường cải lương, nghĩa là dựa vào chính phủ Bảo hộ và nước Đại Pháp văn minh để tiến hành cải cách nhằm đưa xã hội Việt Nam tiến lên phía trước. Nhưng chủ trương dựa vào Pháp để thực hành cải lương của ông đã thể hiện một sự nhận thức không đúng về chủ nghĩa tư bản đế quốc và nền văn minh tư bản chủ nghĩa. Ông không lý giải được tại sao các nước tư bản tiên tiến gắn với nền dân chủ tự do và văn minh tư bản chủ nghĩa như nước Pháp lại có thể câu kết với những thế lực phong kiến lỗi thời và phản động để nô dịch và áp bức nhân dân thuộc địa. Vì thế chủ trương dựa vào Pháp để thực hành cải lương chỉ là ảo tưởng và không thể nào đạt được mục đích. trong cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch tác giả Trần Dân Tiên viết: “Cụ Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương, đó là sai lầm chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương”(1). Nhưng muốn hiểu đúng chủ nghĩa cải lương của Phan Châu Trinh chúng ta phải thấy rằng, các sĩ phu yêu nước ở Việt nam hồi đầu thế kỷ XX không thể vượt khỏi giới hạn của lịch sử, nghĩa là các ông đang vươn tới ý thưc hệ tư sản và chưa vượt khỏi ranh giới của ý thức hệ. Vì thế các ông không thể giải thích được chủ nghĩa tư bản đế quốc một cách khoa học theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và không thể có được một uan điểm cách mạng triệt để của giai cấp vô sản. Cũng do những giới hạn đó của lịch sử mà nhà yêu nước Phan Bội Châu, đại biểu cho khuynh hướng cách mạng bạo lực là một khuynh hướng thể hiện dược ý chí chống ngoại xâm của dân tộc cũng không thấy được bản chất của chủ nghĩa tư bản đế quốc và lực lượng đông đảo của quần chúng. Phan Bội Châu đã nhìn nhận mâu thuẫn giữa dân tộc ta và thực dân Pháp là mâu thuẫn giữa hai chủng tộc da trắng và da vàng. Và ông cũng đã hy vọng nhờ vào sự giúp đỡ của nước Nhật tư bản chủ nghĩa để chống Pháp. Với sự nhận thức không chính xác như vậy về đối tượng và động lực cách mạng nên Phan Bội Châu đã không tránh khỏi những thất bại liên tiếp. Chính vì thế mà khi viết Tự phê phán, Phan Bội Châu đã phải thốt lên: “Than ôi! Lịch sử của tôi là lịch sử một trăm thất bại mà không một thành công” (2). Và cuối cùng một người kiên trì cách mạng bạo lực trong mấy thập kỷ rút cuộc lại rơi vào thuyết “Pháp – Việt đề huề”. Điều này chứng tỏ rằng trong khuôn khổ của ý thức hệ tư sản và tiểu tư sản thì một người kiên trì chủ trương cách mạng bạo lực như Phan Bội Châu cũng không khỏi có lúc rơi vào chủ nghĩa cải lương. Nếu chúng ta nhìn thẳng vào những giới hạn đối với Phan Bội Châu như vậy, thì chúng ta càng thông cảm và hiểu rõ hơn chủ nghĩa cải lương của Phan Châu Trinh. Nhà thờ cụ Phan Châu Trinh. Ảnh : Lê Hồng Thái Để đánh giá Phan Châu Trinh, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc chủ nghĩa cải lương của ông là cần thiết. Nhưng chúng ta không dừng lại ở đó mà điều quan trọng hơn là chúng ta phải xem xét một cách tổng thể yêu cầu khách quan của xã hội Việt Nam trong bối cảnh thế giới đương thời và tìm hiểu xem tư tưởng của Phan Châu Trinh cũng như hoạt động thực tiễn của ông đã đáp ứng những yêu cầu đó như thế nào. Đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, nhiệm vụ chống đế quốc nhằm giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu. Điều đó phản ánh mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam, tức mâu thuẫn giữa dân tộc Việt nam và đế quốc Pháp xâm lược. Mâu thuẫn đó quy định xu thế phát triển của xã hội Việt Nam đương thời. Nhưng để thực hiện nhiệm vụ chống đế quốc của cách mạng Việt Nam mà lúc này chỉ kêu gọi lòng yêu nước và chí căm thù quật khởi của nhân dân không thôi thì chưa đủ mà phải nêu rõ tiền đồ của đất nước sau khi giành độc lập. Ở vào thời điểm này của lịch sử, giải phóng dân tộc phải đi liền với giải phóng khỏi đói nghèo, lạc hậu và bị kìm hãm bởi những quan hệ phong kiến hà khắc, thì gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Mặc dù nước đó có giành được độc lập rồi cũng khó mà đứng nổi trong sự xâu xé của các cường quốc tư bản chủ nghĩa và trong cuộc cạnh tranh sinh tồn của thế giới đương thời. Chính vì thế mà trong hai thập kỷ của thế kỷ XX, trên đất nước Việt Nam cùng với ngọn cờ chống Pháp bằng lực lượng vũ trang, đã xuất hiện phong trào Duy Tân hô hào đổi mới và cải cách khắp trong Nam và ngoài Bắc nhằm đưa xã hội Việt Nam tiến lên một bước. Phong trào này đã lôi cuốn được đông đảo nhân dân tham gia, nổi nhất là trường Đông kinh Nghĩa thục ở Hà Nội và phong trào Duy tân ở các tỉnh miền Trung. Những hoạt động của phong trào này nhằm cổ vũ ý thức tự cường dân tộc, thúc đẩy những cải cách văn hóa và xã hội trước hết là cải cách giáo dục và thi cử. Trọng tâm của phong trào đặt vào sự đổi mới đầu óc của mọi người, đổi mới tri thức, từ bỏ cái học cũ và những tri thức lỗi thời cổ xưa để hướng tới nền học vấn Âu Tây trong khoa học kỹ thuật. Những nhân vật đại biểu cho phong trào này cũng đã từng kêu gọi các tầng lớp nhân dân cải cách phong tục hăng hái tham gia vào những hoạt động kinh doanh nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên những cố gắng của họ thường hướng vào việc nâng cao dân trí và dân khí. Họ mong muốn dân ta không còn mê ngủ, nghèo nàn, lạc hậu và khao khát một tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Phan Châu Trinh là nhân vật tích cực của phong trào đổi mới và cải cách nay. Ông không những có mặt ở đỉnh cao của phong trào tại mấy tỉnh miền Trung mà còn đến trường Đông kinh Nghĩa thục diễn thuyết biên soạn những áng thờ văn kêu gọi lòng yêu nước và hô hào cải cách. Trong khi phong trào này hầu như ở khắp mọi nơi chỉ đề cập đến cải cách văn hóa xã hội, đến sự đổi mới tri thức và phong tục thì Phan Châu Trinh là người đề xướng cải cách hệ thống chính trị với tất cả tính nghiêm trọng và cấp bách của vấn đề này. Ông đả kích hệ thống quan lại mục nát, tham nhũng, hủ lậu và bất lực. Ông nêu ra vấn đề chức trách, phẩm giá và cơ chế hoạt động của cả tập đoàn quan liêu từ triều đình đến những tên nha lại hào lý hằng ngày sách nhiễu đè nén những người dân lương thiện. Nhưng ông không dừng lại ở sự phê phán tầng lớp quan liêu hào lý mà còn phê phán cả quyền chuyên chế của nhà vua, nhất là “tám mươi năm trở lại đây, vua thì dốt nát ở trên, bầy tôi thì nịnh hót ở dưới; hình pháp dữ dội, luật lệ rối loạn, làm cho dân không còn biết sống theo cách nào” (3). Ông còn chỉ rõ một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đồi bại của bộ máy quan liêu là sự “dung túng của chính phủ Bảo hộ”. Duy ở đây có điều là ông không thấy chính sách sử dụng bộ máy quan liêu sâu mọt như vậy để nô dịch nhân dân là bản chất của thực dân Pháp. Vì thế ông đã cố gắng thuyết phục chính phủ Bảo hộ thay đổi chính sách và tiếp thu những đề nghị của ông về cải cách hệ thống quan lại và mở rộng dân chủ cho nhân dân. Nhưng sự thuyết phục đó không thể thành công. Nhà số 10 Hàng Đào – nơi xưa kia là phân hiệu 2 của Đông Kinh Nghĩa Thục – có lẽ vẫn còn giữ được nguyên trạng so với cách đây 100 năm. Ảnh: Việt Anh Khi đề xuất những yêu cầu cải cách chính trị đối với xã hội Việt Nam lúc đương thời, Phan Châu Trinh đã nêu ra tư tưởng dân chủ như một định hướng cho cuộc cải cách này. Nội dung cơ bản của tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh là nâng cao dân quyền, là xây dựng thể chế chính trị và hệ thống pháp luật để bảo đảm cho dân quyền. Ông nhấn mạnh: “Theo cái chủ nghĩa dân trị thì từ quốc dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo việc chung cả nước, lòng quốc dân thế nào thì làm thế ấy” (4). Trong mấy thập kỷ đầu của thế kỷ này, tư tưởng dân quyền của Phan Châu Trinh như một ánh hào quang rực rỡ. Chính vì thế mà khi ông mất, Phan Bội Châu viết: “Ông Phan Hy Mã ta ra đời nghiên cứu học thuật ông Lưa Thoa, phát minh ra lời ông Mạnh Tử, đem hai chữ dân quyền hò hét trong nước như một tiếng sấm vang, làm cho bao nhiêu giấc mơ phải tỉnh dậy, mà dân tộc ta từ nay dần dần mới biết mình có quyền. Quyền dân cao hơn thì quyền vua sụt xuống… Nay ông đã qua đời rồi mà cái chủ nghĩa ông ngày càng sáng chói. hết cr đồng bào trong nước từ đứa trẻ con cũng lạy ông, khấn vái ông. Vậy là cái nghĩa “dân quyền” dạy bảo con người đã in sâu vào trong óc rồi đó!” (5) Bước sang thế kỷ XX đất nước Việt Nam không những cần có độc lập dân tộc, mà phải giàu mạnh, có dân chủ và văn minh. Chính yêu cầu đó của lịch sử đã khẳng định vai trò quan trọng của phong trào Duy tân đổi mới và cải cách. Ông là người phát biểu một cách dõng dạc và rõ ràng nhất những sự hủ bại củ hệ thống quan lại và đưa ra những yêu cầu cải cách hệ thống quan lại và những quan hệ chính trị lúc đương thời. Không những thế, ông còn làm sáng tỏ vấn đề dân quyền về mặt lý thuyết và ra sức cổ vũ tuyên truyền cho sự thực hiện dân chủ và dân quyền trong thực tiễn. Tư tưởng dân chủ và dân quyền của Phan Châu Trinh là một đóng góp to lớn không những cho phong trào đổi mới và cải cách mà cả cho sự phát triển của lịch sử tư tưởng Việt nam đầu thế kỷ XX. Nếu chúng ta nhìn Phan Châu Trinh không phải chỉ thấy chủ nghĩa cải lương của ông mà còn thấy những cống hiến của ông về mặt tư tưởng và thực tiễn như trên đã nói thì chúng ta sẽ có sự đánh giá địa vị của ông trong lịch sử cách mạng Việt Nam một cách khách quan và công bằng hơn trước.

________________________________________

1) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động cua Hồ Chủ tịch, NXB Sự thật, 1975, tr. 12

2) Phan Bội Châu, Tự phê phán, NXB Văn sử địa, H,, 1955, tr. 27

3) Phan Châu Trinh, Thất điều trần trong Phan Châu Trinh. Toàn tập, t. 3, NXB Đà Nẵng, 2005

4) Phan Châu Trinh, Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa, trong Phan Châu Trinh, Toàn tập, t. 3, NXB Đà Nẵng, 2005

5) Phan Bội Châu, báo Tân dân, ngày 24-2-1929

Những nỗi đau của thời nay

Nghề nghiệp buộc tôi luôn luôn phải trở lại với văn chương quá khứ. Qua các trang sách đã đọc, tôi hiểu con người thời nào cũng có những nỗi đau khổ lớn lao. Song, nếu được so sánh, tôi vẫn cảm thấy so với họ, con người thời nay đau đớn gấp bội.

Đau đớn không phải do “trời xanh” hay “con tạo” gây ra, mà đơn giản do cái xu thế chi phối cả xã hội lôi cuốn người ta, đau khổ do người nọ gây ra cho người kia, hoặc suy đến cùng là do chính mỗi người tự chuốc lấy. Cuộc sống trần trần trong ánh ngày đấy mà như trong cơn mê, và thỉnh thoảng người ta tỉnh ra thì cũng lập tức biết rằng tất cả đã muộn, tình thế vô phương cứu chữa.

Trong mục Trà dư tửu hậu trên TBKTSG số 10-2008, tôi đã kể về một cô giáo trẻ chạy trốn khỏi nghề dạy học. Cô không đương nổi nỗi đau mà nhiều thầy giáo có lương tâm bây giờ phải gánh chịu: không có được lớp học trò tử tế để có thể yêu thương tin tưởng, cống hiến hết mình cho nghề.

Những nỗi đau tương tự như thế diễn ra hàng ngày đến mức người ta đâm ra dạn dày không muốn nghĩ tới. Lớp người năm nay sáu mươi, bảy mươi tuổi chúng tôi thỉnh thoảng lại có những buổi họp lớp.

Một kết luận khiến nhiều người sững sờ: kẻ thành công trong đường đời (giàu hơn và có địa vị xã hội cao hơn) nhiều khi không phải là người giỏi giang mà đơn giản chỉ là những kẻ liều lĩnh hơn, dám làm… láo hơn.

Trở thành công chức nhà nước, chúng tôi thèm được làm việc trong những cơ quan mà người đứng đầu thạo việc hơn mình, để rồi khốn khổ thay, đó là ao ước không mấy người đạt được. Nhưng thôi, những nỗi đau đó xem ra còn có vẻ “sang trọng” quá. Có nhiều nỗi đau cụ thể hơn, đời thường hơn. Chẳng hạn bạn hãy tìm đến một gia đình nào đó có đứa con bị nghiện hút.

Bây giờ cuộc mưu sinh quá lôi cuốn, đến mức nhiều người nhắm mắt bỏ qua, con hư mặc kệ, hàng ngày nhẫn nại mở tủ cung cấp cho con tiền bạc tiêu xài. Bản thân thì lấy sự chi tiêu tốn kém cho con làm cái cớ để bước sâu thêm vào vòng tham nhũng hoặc buôn gian bán lận, cốt bòn rút được của cải của thiên hạ và lấy đó làm điều hãnh diện. Song, bên cạnh những người mê muội vẫn còn những người tỉnh táo hơn và tấn bi kịch tinh thần của họ bắt đầu từ sự tỉnh táo đó.

Sau những cố gắng tuyệt vọng để cứu vớt đứa con hư và tìm cách đưa nó về con đường chính đáng, nhiều gia đình rơi vào bất lực và tuyệt vọng. Đến nước ấy, người ta chỉ có cách từ con, rồi lo chạy chọt để tống con vào trại cai nghiện và thầm mong mỏi một điều ngược đời: mong cho đứa con rứt ruột của mình chết đi càng sớm càng tốt. Vâng, đúng thế vậy! Hãy hình dung cái cảnh những bậc cha mẹ mặt lạnh như tiền đến đón đứa con mang đi mai táng, xem như thoát được một gánh nặng và một nỗi nhục nhã. Chẳng phải đó là tình cảnh phi nhân văn nhân đạo, tức trái với tính bản thiện của con người, những tình thế xưa nay chưa từng có mà chỉ ngày nay mới có?

Hàng ngày báo chí loan tin bao nhiêu kiểu giết người mà tôi không muốn kể ra ở đây vì thấy quá kinh dị. Chỉ nói một ca nhẹ hơn, một cháu bé trong cơn điên thèm chơi game, bóp cổ bà già hàng xóm lấy tiền. Tôi ngờ là trong số những người thân của cháu nhỏ này, một lúc nào đó, trong đầu óc sẽ quẩn lên câu hỏi, con mình hay cháu mình có còn là người nữa không. Nỗi đau của những người đó – khi mơ hồ dự đoán tương lai của đứa trẻ – chắc chắn là một nỗi đau vô bờ.

Một người mẹ có hai con có mặt trong chiến tranh. Đứa lớn không trở về, nhưng tấm bằng liệt sĩ mang lại cho bà sự kính trọng của họ hàng và xóm giềng. Đứa em thì ngược lại, trở về với một tâm hồn lạnh giá. Gã tự dành cho mình cái quyền hư hỏng phá phách làm càn để bù lại bao nhiêu gian khổ đã hủy hoại gã trong những năm tuổi trẻ. Không nghiện hút, chỉ cần rượu chè, cờ bạc đề đóm thôi, gã cũng đã thành một hiện thân của bệ rạc và tha hóa. Trong cơn buồn bã bất lực, có lúc bà mẹ chép miệng: “Thà nó cứ chết đi như thằng anh, tôi nghĩ lại thấy đỡ vô phúc hơn là quay trở về hành hạ tôi như thế này”!

Trong cái câu than thở bồng bột cất lên ấy, tôi nghe ra một tiếng khóc thống thiết. Hạnh phúc cuối cùng của con người xưa nay là tình yêu cuộc sống, thấy rằng cuộc sống có ý nghĩa. Chỉ nhờ có được điều hy vọng tự nhiên đó mà con người vượt lên được bao nhiêu thách thức gặp phải trên đường đời. Nay cái ý nghĩa lớn lao đó nhiều người không tìm thấy. Tương lai trở nên vô vọng. Cuộc sống chỉ còn chuồi đi theo thói quen. Tự mình chứng kiến sự hư hỏng của mình và những người thân của mình – hỏi có nỗi đau khổ nào hơn, và về mặt này, những lớp người tiền bối làm sao có thể so sánh với nhiều người chúng tôi hôm nay được!

Vương Trí  Nhàn

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn

… “Thật đáng buồn cho cách dạy của chúng ta…”

Bài “Các em thật giỏi quá” để lại trong tôi một ấn tượng mạnh hơn bất cứ lời bình nào về nền giáo dục của nước Mỹ.
Người thầy giáo trong bài báo ấy chẳng khác một thiên thần. Ông đem lại cho lũ trẻ lòng công bằng, tình yêu thương, tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, tư duy lý tính, ý nghĩa của cuộc đời … Với cách giáo dục như thế, sao mà lũ trẻ không có tình thương, sao mà chúng còn chịu sự ràng buộc và hạn chế của những điều này khoản nọ nào đấy ?
Tôi bỗng nhớ lại hồi học trung học, thầy giáo có tổ chức cho chúng tôi học tập tấm gương Lại Ninh.
Chuyện Lại Ninh như sau: Ngày 13 tháng 3 năm 1988, thiếu niên Lại Ninh 14 tuổi bỗng phát hiện thấy có đám cháy trong rừng, anh liền tức tốc chạy tới chỗ cháy và cầm lấy một cành cây hăng hái quên mình dập lửa. Tuy các đội viên đội chữa cháy từng khuyên mọi người chớ chạy đến gần đám lửa, nhưng vì không đành lòng nhìn thấy tài sản của Nhà nước bị thiệt hại, Lại Ninh vẫn tiếp tục dập lửa. Sau cùng đám cháy rừng bị dập tắt, hơn 3500 mẫu rừng được cứu thoát, trạm vệ tinh chuyển tiếp truyền hình trong rừng và nhà kho của công ty dầu lửa cũng bình yên vô sự. Sáng hôm 14, người ta tìm thấy xác Lại Ninh trong đống tro rừng. Tay phải anh vẫn còn nắm chặt cành cây, mặt hướng lên đồi, cặp kính cận thị văng đâu mất, tay trái bám lấy mặt đất, chân phải ở tư thế leo lên đồi. Lại Ninh đã vĩnh biệt chúng ta nhưng tinh thần của anh mãi mãi còn sống với chúng ta. Anh là tấm gương để chúng ta học tập noi theo! Anh mãi mãi là niềm kiêu hãnh của chúng ta!
Lại Ninh là một thiếu niên tốt và có tinh thần quý trọng của công rất cao. Thế nhưng tại sao chúng ta không dạy dỗ trẻ em cách phòng tránh khi có cháy rừng mà lại khuyến khích các em chạy tới đám cháy? Có “tài sản Nhà nước” nào quý hơn tính mạng con người chăng ? Những người thân của Lại Ninh sẽ phải chịu đựng nỗi đau như thế nào vì chuyện ấy ? Còn có cách giáo dục nào thiếu đạo đức hơn lối dạy trẻ em như thế không ? Nhất là ngày nay, trong khi một lũ quan tham ra sức chiếm đoạt “tài sản Nhà nước” thì ta vẫn tiếp tục dạy dỗ các em hy sinh thân mình để bảo vệ một loại tài sản nào đó, thử hỏi đạo trời ở đâu?
Tại nước Mỹ, khi xảy ra nguy hiểm, các thầy cô giáo bao giờ cũng khuyên răn học trò rời xa ngay nơi đó và hướng dẫn chúng rất tường tận cách tránh né. Họ hiểu rằng tính mạng giữ được thì lại có thể làm ra tài sản… Cách giáo dục của chúng ta thì có thể đưa bao nhiêu thanh thiếu niên ưu tú đi tới chỗ chết!
Thế nhưng trước đây tôi đâu có biết đạo lý ấy. Tôi từng mong muốn mình cũng được như Lại Ninh liều thân chữa cháy, dẫu có hy sinh trong đám lửa thì cũng không quản ngại. Cho tới năm học lớp 12, tôi được một thầy giáo trẻ dạy môn sử có lương tri bảo ban cho dần dần hiểu rõ thực chất của nhiều vấn đề, từ đó tôi bắt đầu suy nghĩ sâu sắc. Sau khi trở thành nhà báo, đi nhiều thấy nhiều, tôi dần dần hiểu ra rằng tính mạng con người, tình thương yêu, lòng khoan dung và niềm tin mới là thứ đáng quý nhất.
Kiểu giáo dục khuyên bảo lũ trẻ con ấu trĩ xông vào cứu cái gọi là “tài sản Nhà nước” ấy thật đáng trách, ngay cả loài cầm thú cũng chẳng làm thế. Tất cả mọi thứ vật chất đều có thể làm lại, riêng sinh mạng thì không thể.
Cách giáo dục ấy hủy hoại lũ trẻ từ nhỏ, xóa bỏ thiên tính của chúng, ươm trồng hạt giống tính nô lệ. Ngay từ ở nhà trẻ, có cô giáo đã quyết định thái độ đối xử với từng cháu tùy theo bố mẹ cháu chức vụ cao hay thấp, giàu hay nghèo; ngay từ tuổi ấy chúng đã dần dần học được cách lấy lòng cô giáo. “Nô tính” ấy thâm căn cố đế tới mức sau này có người leo lên địa vị lãnh đạo rồi mà vẫn còn giữ thói cũ, thậm chí còn nặng hơn. Thấy khách nước ngoài thì cung kính vâng vâng dạ dạ; thấy quần chúng bình thường thì nạt nộ ra oai … Thật là đáng buồn làm sao !
Chế độ giáo dục xóa bỏ lương tri, tính người, hủy hoại tình thương yêu, trau dồi nô tính và tính phục tùng, gạt người nghèo ra khỏi ghế nhà trường chẳng những chỉ đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo mà còn hủy hoại tiền đồ của một dân tộc. Nếu không thấy rõ sự khác biệt giữa chúng ta với người Mỹ ngay từ cách giáo dục trẻ em, nếu không cải tổ nền giáo dục mà cứ phát triển theo kiểu giết gà lấy trứng như thế này thì chúng ta sẽ mãi mãi chẳng đuổi kịp người Mỹ và con cháu chúng ta sau này sẽ phải trả giá đau khổ cho cách tăng trưởng kinh tế này.

Theo Tạp chí Tia Sáng – Thời Hàn Băng (Trung Quốc)

THÔNG CÁO BÁO CHÍ HỘI THẢO VỀ BAUXITE – ngày 09/04/2009

Hà Ni, ngày 09 tháng 4 năm 2009

THÔNG O BÁO C

Hi tho khoa hc “Vai trò ca công nghiệp khai thác bauxite – sn xut alumina - nhôm đi với phát triển kinh tế – xã hi Tây Nguyên và những yếu tố nh hưng đến môi trưng, văn hoá khu vực”

Bộ Công Thương thông báo kết quHội thảo khoa hc Vai t ca công

nghiệp khai thác bauxite - sản xuất alumina - nhôm đối với phát trin kinh tế -

xã hội Tây Nguyên và nhng yếu t nh ng đến môi trưng, văn hoá khu

vc” như sau:

Thc hin ch đo ca Th tưng Chính ph ti Thông báo s 17/TB- VPCP ngày 13 tháng 01 năm 2009, ngày 09 tháng 4 năm 2009, tại Hà Nội, Bộ Công Thương đã phi hp vi Liên hip các hi Khoa hc và K thut Việt Nam t chc Hi thảo khoa hc với ch đ Vai t ca công nghip khai thác bauxite-sn xut alumina-nhôm đối vi phát trin kinh tế-xã hi Tây Nguyên và nhng yếu t nh hưng đến môi trưng, văn hoá khu vc”.

Tham d Hi thảo Phó Th tưng Chính ph Hoàng Trung Hi, nguyên Phó Ch tch nước Nguyễn Th Bình, đi din Lãnh đo các cơ quan ca Đng, Nhà nưc; các B, ngành liên quan; các Hiệp hội, Vin, Trưng; mt s Doanh nghip trong nước và nước ngoài thuc lĩnh vc khai thác-chế biến bauxite; mt s nhà hoạt đng khoa hc-xã hội và văn hoá.

Đông đảo các png viên báo chí, truyền thanh và truyền hình đã tham

d và đưa tin vHội tho.

(Thành phn Hội tho xem Danh sách kèm theo).

Phó Th tưng Cnh ph Hoàng Trung Hải trc tiếp ch đo, B trưng

Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng và Quyền Ch tịch Liên hip các hi Khoa

hc và K thut Vit Nam H Uy Liêm cùng tham gia ch trì Hi tho.

Sau phần khai mạc và giới thiu đại biu ca Ban T chc, B trưng

Vũ Huy Hoàng đã phát biu v lý do và mc đích ca Hội tho.

Phó Th tưng Hoàng Trung Hải đã thông báo toàn b nội dung đin ca

Đại tưng Võ Nguyên Giáp gi Hi tho.

Hi tho đã nghe 11 báo cáo khoa hc, tham luận v các ch đ chính


sau:


- Tóm tắt ni dung và tình hình thc hin d án Quy hoạch phân ng


thăm dò, khai thác, chế biến, s dng bauxite giai đon 2007-2015, xét đến năm 2025; các ý kiến góp ý trong vic trin khai Quy hoạch (B Công Thương trình bày).


- Tình hình trin khai các d án bauxite-alumina Tây Nguyên (Tập

đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sn Vit Nam trình bày).

- Tham lun v công ngh sn xuất alumina (Hi Đúc và Luyện kim

trình bày).

- Các giải pháp và kinh nghiệm hoàn nguyên, khôi phc môi trưng sinh thái trong khai thác bauxite và sn xut alumina (Tp đoàn ALCOA Mtrình bày).

- Các gii pháp và kinh nghiệm qun lý bền vững n đ trong sn xuất

alumina ở Trung Quốc. (Tập đoàn CHALCO – Trung Quc trình bày).

- Các gii pháp, tiêu chuẩn bo v môi trưng ca các d án bauxite- alumina. (B Tài nguyên và Môi trưng trình bày).

- Tác đng và nh hưng ca d án khai thác bauxite và sản xuất alumina đi vơí phát trin kinh tế-xã hô tnh Đk ng (UBND tnh Đk Nông trình bày).

- Tác đng và nh hưng cu d án khai thác bauxite và sản xuất alumina đi với phát trin kinh tế-xã hi tnh Lâm Đồng (UBND tnh Lâm Đng trình bày).

- Tham luận ca Hội bo vTài nguyên thiên nhiên và Môi trưng.

- Tham luận ca hi Dân tc hc và Nhân hc Việt Nam.

- Kiến ngh mt s giải pháp ch yếu phát trin bn vng công nghip khai thác và chế biến bauxite Việt Nam trong bi cnh mới (Tng hi Đa cht - Hi Hoá hc Việt Nam trình bày).

- Các vấn đ xung quanh việc trin khai các d án bauxite Tây Nguyên

(Liên hiệp các Hội Khoa hc và K thuật Việt Nam trình bày).

Ngoài các báo cáo tham lun, trong thi gian tho lun ca Hi tho, mt

s đi biu đã nêu các vn đ và tho luận các ni dung liên quan đến chtrương phát trin công nghiệp khai thác và chế biến bauxite Việt Nam; tính pháp lý và khả thi ca quy hoch; các hn chế ca các d án đang triển khai

và đặc bit v hiu qu kinh tế-xã hi và tác động ca các d án bauxite đến

s phát trin kinh tế-xã hội, môi trưng sinh thái, cộng đng dân và văn hoá khu vc Tây Nguyên. Đa s các đi biu đã thng nht ý kiến cn trin

khai d án khai thác chế biến Bauxite th nghiệm nhằm đánh giá v công nghệ, th trưng đrút kinh nghim.

Đại din B Công Thương và Tp đoàn Công nghip Than-Khoáng sn Việt Nam (TKV) đã gii thích và làm thêm mt s nội dung mà các đại biu đã đề cập trên.

Phó Th tưng Chính ph Hoàng Trung Hải phát biu kết lun Hi tho

vi ni dung chủ yếu như sau:


- Các đi biu tham gia Hi thảo có nhiu ý kiến tâm huyết với tinh thần xây dựng và trách nhiệm cao, đ ngh các B, ngành, địa phương, đặc bit Tập đoàn TKV cần tiếp thu các ý kiến trên.

- Ch trương phát triển ngành công nghiệp khai thác bauxite, sản xuất

alumina nước ta là đúng đn và được th hiện trong văn kin Đại hi Đng

lần th 10. Vit Nam ngun tài nguyên Bauxite ln, có tiềm năng đ hình thành ngành công nghip khai thác, sn xuất alumina ln, tuy nhiên, không

thphát trin bng mi giá. Đ phát triển thành công các d án bauxite cần có gii pháp qun , thực hiện chặt ch và hiệu qu và không đ tiềm năng này biến Tây Nguyên thành đói nghèo.

- Quy hoch Bauxite được lp da trên nhng d báo v kinh tế, thtrưng. Tuy nhiên, nhiu d báo không chuẩn xác không ch đi với Việt Nam mà cả quc tế. Quy hoch được chuẩn b trong bi cnh nn kinh tế phát triển nhanh, vì vậy đã đưa ra s lưng d án và sn lưng thiên cao. Trong quá trình lập quy hoch, đã t chc hội tho nhiu ln, tuy nhiên khi nn kinh

tế gặp khng hong, đòi hi phải s đánh giá lại và điu chỉnh cho phù hp.

- Các d án bauxite lớn đều trong giai đon nghiên cu chun b d án.

D án Alumina Tân Rai và Nhân là các d án thí điểm đ m hiu công nghệ, th trưng. D án Tân Rai đã đưc nghiên cu t những năm 90, đến nay vẫn còn nhiều vn đtranh cãi vcông nghệ, môi trưng v.v. D án Nhân

cn phi lập đánh giá tác đng môi trưng (ĐTM) điu chỉnh và trình duyệt trưc khi triển khai thc hin.

- V vấn đ chiếm đt, rừng: Diện tích chiếm đất ca 2 d án thí điểm

kng ln; s h phi di dân không nhiu, nhưng vn đ tác đng môi trưng

đi với diện tích còn li, đt nông nghiệp và đt sinh hot cn tính toán k,

giám sát chặt ch trong quá trình thc hin. Ch đu tư phải có kế hoch lấy

đất và hoàn th c thđể các cp, các ngành thc hiện giám sát.

- V vn đ x lý môi trưng: Hin nay gii pháp công ngh x lý môi trưng là hoàn toàn có th gii quyết đưc, vn đ quan trọng là kh năng thu xếp tài chính, cân đối hiệu qu kinh tế ca d án, tính nghiêm c ca việc triển khai thc hin và cần giám sát chặt chẽ.

- Vấn đ công ngh: Việt Nam không có công ngh sn xuất alumina- nhôm, phải nhập khu. Trước hết cn làm ch công ngh nhp, t đó mới

th sáng to và phát triển công ngh riêng cho mình. Cần giám sát chặt chẽ công tác chuyển giao công ngh ca d án Tân Rai và Nhân đ đảm bảo công ngh tiên tiến.

- s h tng đưng st, cảng biển là các d án ln, cần xem xét, đánh

giá k trong quy hoch điều chnh. D án đưng st Tây Nguyên-Bình Thun hin nay đang giai đoạn lập báo cáo đu tư, còn nhiu vn đ chưa rõ, cn xem xét trong cân đối chung tài chính và đầu tư quc gia.


- Vấn đ cung cấp ớc: Trong quy hoch điều chnh cn phải đánh giá

tác động và nh toán cân bng nước cho toàn khu vc, s thẩm định và kiểm tra ca các B, ngành liên quan.

- Vấn đ đin: Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam không có lợi thế đsản xuất nhôm, vì vy, trước mắt d kiến sn xut alumina. Tuy nhiên cn tính toán đến kh năng phát trin nhôm vào giai đoạn sau khi điu kin cho phép.

- V nguồn nhân lc ca d án: Tập đoàn TKV đã phi hp tốt vi đa

phương đào tạo nhân lc ti ch, cn tiếp tc thc hin theo hưng trên.

- Do còn nhiu nghi ngại v hiu qu kinh tế ca các d án , vì vy, giao

Bộ Công Thương và Tập đoàn TKV cn nghiên cu tính toán li hiu qu ca

d án theo s biến đng ca tình hình kinh tế thế gii.

- V vn đ văn hóa, bn sc dân tc: Những giải pháp đưa ra chưa tht

s an tâm. Vấn đ này quan trọng hơn hiệu qua kinh tế. Cn s giám sát cht ch trong quá trình di dân, tái đnh cư, đền bù đt đai, đào tạo chuyển đi nghề, di dân theo nhóm, bản làng v.v.

Chính ph tiếp thu các ý kiến ca Hi tho và s giao cho các B, ngành triển khai thc hin mt s việc sau:

1. Bộ ng Thương

- Nghiên cu, đánh giá tình hình và đ xut điu chỉnh Quy hoạch phân vùng thăm , khai thác, chế biến, s dng bauxite cho phù hp với tình hình th trưng hin nay. Cần có nghiên cu đánh giá tác động môi trưng chiến lược theo quy định.

- Ch trì, phi hp với các B, ngành, địa phương tăng cưng công tác

quản lý khai thác, chế biến khoáng sn bauxite.

- Ch t phi hp với B Nông nghiệp và Phát trin nông thôn và đa

phương liên quan thm định thiết kế k thuật ca h bùn đ, đm bảo an toàn lâu dài đi vi môi trưòng;

- Ch trì phi hợp vi các b ngành liên quan kiểm tra, đánh giá lại hiu

qukinh tế ca d án thí đim.

2. Bộ Tài nguyên và Môi trưng

- Tiếp tc ch đạo tăng cưng công tác điều tra bn, thăm dò, xác định trữ lưng tài nguyên bauxite. Phi hợp vi Bộ Công Thương thc hin quy hoch điều chỉnh.

- Ch trì cùng vi các B, ngành và đa phương có liên quan thẩm định

kế hoch và tiến đ thu hồi đt, thi công cun chiếu và hoàn th hai d án thí

điểm hạn chế nh ng ca d án đi vi hot đng sản xuất nông, lâm nghiẹp ca đa phương và bo vmôi trưng.


- Phối hp vi Chính quyền đa phương theo dõi, giám sát việc thc hiện

các gii pháp môi trưng đi vi hai d án thí điểm Tân Rai và Nhân Cơ.

- Đ xuất việc tăng cưng công tác qun lý nhà nước v môi trưng đi

vi các d án bauxite và cân bng nước trong khu vc.

3. Bộ ng nghiệp và Phát triển ng thôn

- Phi hợp kiểm tra, giám sát việc cp đt, chuyển giao đt, di dân tái

định và tác động môi trưng, văn hoá và dân tc.

4. Bộ Khoa hc và Công ngh

- Ch đo và kiểm tra vic chuyển giao công ngh sn xut alumina, đảm bo công nghtiên tiến, thân thiện vi môi trưng.

5. U ban nhân dân các tnh có hot đng khng sn bauxite

- Phi hp với B Thông tin và Truyền thông đẩy mnh công tác thông tin, tuyên truyền ch trương ca Đng và Chính ph v phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sn bauxite.

- Phối hp vi các Bộ và ch đu tư tăng cưng công tác qun lý nhà nước vkhai thác, chế biến khoáng sn, bo vmôi trưng trên địa bàn.

- Ch trì, phi hợp vi ch đầu tư thc hin tt công tác đn bù, gii png mặt bng, di dân tái định đ phục v cho các d án bauxite trên đa bàn.

6. Tp đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sn Việt Nam

- Triển khai d án thí điểm Tân Rai đảm bảo tiến độ. Đối vi d án Nhân

Cơ, phải phê duyệt ĐTM điu chỉnh trước khi trin khai thc hin.

- Thc hin nghiêm c các tiêu chuẩn quy định v bảo v môi trưng

đặc bit là bo đảm chất lưng thi công các công trình x lý môi trưng.

- Xây dng kế hoch chi tiết thc hiện vic khai thác m, hoàn thổ, khôi phc môi trưng theo trình t cun chiếu, bo đảm tác động ti thiu đến hoạt động sản xut nông, lâm nghip ca đa phương, trình y ban nhân dân tỉnh

và các B liên quan thẩm định trước khi triển khai thc hin.

- Kiểm tra, tính toán lại hiu qu kinh tế - tài chính ca d án thí điểm trên cơ s cp nhật các s liu hiện tại và d báo đ trình B Công Thương thẩm định và báo cáo Th tưng Cnh ph.

- Lập thiết kế k thut h thi bùn đ, trình B Công Thương thẩm định

trước khi trin khai thực hin.

- Thc hin tt công tác di dân tái định cư, đào to đi ngũ cán bộ, công nhân cho d án.

Phó Th tưng bày t s cảm ơn các quan đoàn th và các cá nhân đã tham d đông đ và đã đóng góp các ý kiến xây dng cho hi tho, đồng thi yêu cầu các B, ngành, đa phương liên quan cn tăng cưng hp tác cht ch


trong việc ch đo, kim tra và giám sát quá trình trin khai thực hin các d

án bauxite.

Kết qu hi thảo s được tổng hp, báo cáo Th tưng Chính phủ, Lãnh

đo Đng, Nhà nưc và Đại tưng Võ Nguyên Giáp.

Hi thảo đã din ra trong bầu không khí cởi mở, thng thn và vi tinh thn trách nhiệm đi vi s nghip phát trin ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sn bauxite và phát triển bn vững Tây Nguyên.

Các báo cáo tham lun và ý kiến tho lun tại Hi tho đã cung cấp

nhiu tng tin khoa hc và là cnh báo cần thiết cho việc tăng cưng công

tác qun lý, kiểm tra và giám sát trong quá trình trin khai xây dng và vn

hành các d án khai thác, chế biến khoáng sản bauxite ở Vit Nam.

Bộ Công Thương bày t s cảm ơn và đánh giá cao tầm quan trng và

vai t ca báo chí trong việc cung cp thông tin kp thi, đầy đ và xác thc

v ch trương ca Đng và Nhà nước phát triển bền vững ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sn bauxite cũng như quá trình triển khai thc hin các d án bauxite và hy vng s tiếp tc nhận đưc s hp tác chặt ch ca giới truyền thông đ góp phn thc hin thành công ch trương quan trọng này./.

BỘ CÔNG THƯƠNG

BIÊN BẢN HỘI THỎA BAUXITE ngày 09/04/2009

CNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIT NAM

Đc lp – Tự do – Hnh phúc

LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM B CÔNG THƯƠNG

Ni, ngày 09 tháng 04 năm 2009.


BIÊN BN

Vai trò của công nghiệp khai thác bauxite-sản xuất alumina-nhôm đối với phát triển kinh tế- xã hội Tây Nguyên và những yếu tố ảnh hưởng đến môi trường, văn hóa của khu vực

Tiến hành vào hi 8h 30’ ngày 09/4/2009 ti Khách sạn Melia, Nội, ngày 9-4-2009

Thành phn:

1. Đi din Lãnh đo TW Đng, Quốc hi, Chính ph các

B, Ngành:

Nguyn ThBình nguyên PCT c CHXHCNVN

Quốc hội: UBKH&C, H Đ Dân tc

TW Đng: Văn Phòng, Ban tuyên giáo TW

Đ./c Hoàng Trung Hi- Phó TTg Chính phủ.

B Công Thương: Đ/c Vũ Huy Hoàng- B trưởng.

i din VP Chính ph các B: KH&CN, TB&MT, KHT,Tài Chính, GTVT, QP,C An…

2. Liên hip hội Vit Nam:

- PGS,TS Hồ uy Liêm Q. Ch tịch LHHVN,

3. Đi din lãnh đo các tỉnh: Lam Đng, gia Lai, Đc Nông, bình Thun, Bình Phước, Đăk Lk, cao Bng , Lng Sơn….

4. Đi din các B: KH&CN, TB&MT, KH&ĐT,Tài Chính, GTVT, QP,C An


5. Tp đoàn Than khoáng Sn Vit Nam:

- Ông Nguyn Mnh Kin: Ch tịch HĐQT, Tổng Giám đốc

7. Thành phần khác:

- Các Vin nghiên cứu, Các Hi KH&KT chuyên ngành liên

quan

- Các Trường ĐH: ĐHBK, ĐHQGHN, Mỏ Địa cht

- Các cơ quan Báo Đài> VNTTX, vnn.vn. L Đ, TP, Tuổi trm

KH& DDS, Đt Việt, Công Thương, Đu ….

- Đi din mt số doanh nghip nước ngoài: Mỹ, Trung ,Nga, Nht

Ch trì:

- Đ/c Hoàng Trung Hi- Phó TTg Chính ph

- PGS,TS Hồ uy Liêm Q. Ch tịch LHHVN

- Đ/c Vũ Huy Hoàng B trưởng B Công Thương

Thư ký:

- ThS .Công Lương Q . CVP LHH.

- Đ./c Nguyn Mnh Quân V Trưởng v CNN, B CT

Ni dung Hội thảo:

1. Đ/c Nguyn Tiến Vnh- CVP B Công Thương Tuyên bố do,

giới thiu đi biu:

2. Đ/c Vũ Huy Hoàng - B trưởng B Công Thương phát biu v lý do, mc đích hội tho:

3. Đ./c Nguyn Mnh Quân giới thiu m tt nội dungm tình hình thực hin d án Quy hoạch phân vùng,tm dò, khai thác,chế

biến, s dungjBauxite giai đon 2007- 2015, xét đến m 2025.

(Có Báo cáo kèm theo).

4. Ông Đoàn Văn Kin: Ch tịch HĐQT, Tng Giám đốc Báo cáo

tình hình trin khai các d án Bauxite alumina Tây Nguyên ( báo cáo kèm theo)


Ý kiến tham lun:

- Ông Nguyn Văn Ban: VN đừng hy vng lớn vào Bauxite. Chung ta trữ lượng lớn d khai thác, nhưng nhiu bt lợi: Mỏ

nm xa bin, không lợi cho xut khu, Vùng TN li hiếm nước, trong

khi BX cần rt nhiu nước đ khai thác, chế biên. Nguồn nước ly đâu? . H tng cơ s yếu, không đường st nên chi phí đu , vn chuyn rt lớn. thm thực vt s b hủy dit, nếu đn bù rt lớn BX

khai thác s có hàm lượng thực vt cao. Chi phí ci to, hoàn thổ lớn.

Vic sn xut Alumina cn giá thành thp thì mới tinh cạnh tranh. Hin nay do kinh tế suy thoái, nhiu nhà y alumina

phi đóng ca (tr Úc giá thành rt thp). D án Alumin Tân rai, Nhân Cơ ca TKV, giá thành cao khó cnh tranh, ch th hòa vốn ? liu nên trin khai hay o? Đó chưa tính đến chi phí hoàn thổ môi

trường, thuế tài nguyên, thuế XK đu ch mới tính bng ½ ? Chi phí vn ti rt lớn. Như vy d án s l vốn ngay từ khi chưa trin khai

đã thy rõ.

Khuyến nghị: nên dng d án Nhân Cơ, chuyn d án Alumina xuống Ga, thay đổi tuyến đường st v cng Phú M.

- Ông Craig Walkemeyer G Đ các dự án ti Úc Châu Á( ALCOA): Tp đoàn Alcoa vi các gii pháp kinh nghim hoàn nguyên, khoi phc môi trương sinh thai trong khai thác Bauxite Alumina: phc hồi bo tn đt đai cần được chú trng, hn chế đến mức thp nht ánh hướng xu đến môi trưng. Tr

li đt đã phục hồi cho Chính phủ hoc cộng đồng đa phương. Cn ngăn chăn dòng nước đưa vào các h lng không đ chy tràn lanm

nh hưởng đến cộng đồng. Phc hồi phi làm ngay sau khai thác,theo quy trình 6 bước: san lp, hoàn trả mt bng, trả li đt mt, đào xới

đồng mc sâu, trng cây, bón phân bng máy bay, giám sát quá trình phục hồi ( Quy trình Úc)

X thi Bauxite.

- Ông Triu Kiến Quốc - Tp đoàn Chalco- Trung Quốc: Báo cáo Gii pháp kinh nghim quảnbn vững bùn đ trong sản xuất Alumina ca Trung Quốc: xây dng các đp chưa n đỏ; cho bùn vào hồ lng sau đó trng cây xanh. Tận dụng bùn đ sn xut xi măng


silic cat, sn phm cách nhit, gốm, vt liu xây dng. S dng bùn

đ đ lp bin, to đt.

Ông Bùi Cách Tuyến- Phó Tổng cc trưởng Tng cc i trường, B TN&MT: Trình bày Các Giải pháp, tiêu chun BVMT ca các d án Bauxite Alumina (Có Báo cáo kèm theo)

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hi – Chủ trì thảo lun.

1. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hi đọc Đin ca Đi tưng

Nguyên Giáp gửi hội tho: không nên khai thác, đ ngh các nhà

Khoa học đóng p ý kiến cho vn đ này.

2. Ông Nguyn Ngọc Chất:

- V vn đ kinh tế: khuyến ngh nhà đu TKV tính toán li cho phù hp với tình hình thực tế hin nay: nhu cu nhôm gim mnh, sn xut l Trong quy hoch đu xây dng đường st do điu

kin đa hình phức tp nên tính toán li hiu qu đu

- V vn đ môi trường: n đ thm thu làm ô nhim môi trường nng. Nguồn nước cùng khó khăn: vic s dung nước mt

đã tính toán dùng cho dân sinhm không còn dôi dư đ dùng; vic sdụng kinh phí đ s dụng x lý n đ (3-4 % không đ) quá thp không đ đ x lý, s rt nguy him.

- V vn đ hội: Tổng din tích 3570ha d án trin khai

rt lớn( thực tế còn lớn hơn)s nh hướng to lớn đến đi sống người dân. Đề ngh xem li nht vn đ đi sống ca người dân tái định cư. Cn tính kỹ.

* Kiến ngh: Ch nên ly Tân Rai đm d án đim nếu không th dng d án này.

- Tp trung xây dng d án, đc bit vn đ ĐTM cần được tiến

hành song hành.

- Nếu khi d án đưa tiến hành cần phi thực hin 1-5 tiêu chí

3. Ông Nguyn Trung- nguyên Cố vn Th tướng Văn Kit:


- Đề ngh Phó Th tướng cho tp hp tất c ý kiến đ tham


kho trước khi quyết định thực hin d án.

- Các Báo cáo đã trình bày nhiu ý kiến cần xem li chưa thỏa đáng: (Khai thác Bauxite động lực phát trin.. chưa n, TKV báo cáo cũng không n nếu so sánh hiu qu kinh tế như GS Ban trình bày…), Tin công ngh nào đ x lý n đ khi đ cao lớn


gn dân cư như TN. Vic x lú môi trường như Alcoa cũng không

n Úc khác Vit Nam

- V vĩ mô: nếu khai thác như TKV đang làm sai lm, tn m, biến VN thành bãi thi. Với cách công dân đ ngh nên tính đến hu họa chung ta đ li cho tương lai nếu khai thác Bauxte, nên tính đến vn đ an ninh, vn đ tt hu ca đt nước.

4.Nhà văn Nguyên Ngọc:

- Nói khai thác Bauxite như B Công Thương trình bày hn chế xut khu thô không n?. ti sao một s án ln như thế này mà

không xin ý kiến QH?

- Tình hình Tây nguyên hin nay phức tp, Văn hóa tây

Nguyên cơ cấu hi độc đáo, rng, nưc… Chúng ta trong quá trình phát trin đã gây ra nhiu tn hi. nếu khia thác bauxite s

gây ra nhng vn đ vmôi trưng, v văn hóa Tây nguyên

5. Nhà sử học Dương Trung Quc:

- sao hi tho bây gi mới din ra? Ti sao vn đ quan trng này không đưa ra QH đ to s đồng thunm đ chia s trách nhim? Khi xây dng d án này Chính phủ quan tân đến lịch s TN o? nếu

b qua chúng ta s lãnh đủ,

- Qua tri nghim thực tế, chúng tôi không tin các báo cáo ca các

đi biu nước ngoài VN không đ năng lực qun giám sát,

- Trong suy nghĩ ca Chính ph quan tâm đến vic dành tài nguyên cho con cháu hay o? đừng nhìn cái trước mt theo dng mì ăn lin. Nếu chưa đ lc nên dng li.

6. TS Nguyn Anh:

- Nhu cầu nhôm trên thế giới đang ngày càng ng, vn đ khai thác thế o cho hiu qu.

- Hiu qu kinh tế phi được đt lên hàng đu như vy thì mới

điu kin gii quyết vn đ môi trường sinh thái, hi vy cn tính toán k v thời gian đặc thù kinh tế kinh tế. n vừa m vừa

rút kinh nghim

- Vn đ môi trường, cht lượng cuộc sống cần được đt lên hàng đu. TN đang còn nghèo. Cn gii quyết đồng hành vn đ môi trường khai thác bauxite đ góp phn phát trin TN

- Cần nhn din đúng vn đ dựa trên thc tế đ quyết đnh

7. PGS. TSVăn Cương:

- Đây là mt hội tho th hin snghiêm túc ca chính phủ.

- Xin tham lun v vn đ an ninh kinh tế: Đi hội X nêu rõ: Bt c

d án nào cũng phi n c o hiu qu, hn chế xut khu chưa qua


chế biến.; vn đ án ninh kinh tế do thiếu hiu biết, tính toán kém gây mt an ninh kinh tế. Ch trương ca Đng phát trin bn vng nhưng d án này không tính bn vng, tính toán thiếu chính xác> kinh phí hoàn th, thuế, gii quyết môi trường. Thm họa môi trường sinh thái ta th hình dung nhưng chưa lường hết, chưa tính đủ. D

án l s xqm phm an ninh quốc gia ( thông qua vic mt nan ninh kinh tế): Mía đường, xi măng lò đứng, luyn đng…. nhng bài hc đau xót

- Vùng này đã 2 cuộc bo lon chính trị 2001 2004. Cn

thn trng

- Đây đa bàn chiến lược nh hưởng lớn đến an ninh quc giam cn xem xét k lưỡng

- Đề xut: Ch làm Tân Raim các d án khác dng li, tránh làm ào t,m lớn.

8. Ông Nguyn Phúc Khánh - Hi KH Mỏ VN:

- Phi xác định khai thác bauxitsdụng đt tm thời.

- Vic x lý n đ Hy lp bơm n thi ra bin cáh 2800, đã làm chết môi trường bin vùng đó… Phi x bng cách thi vào

vùng mới khai thác(khai trường) mang li hiu qu gim thiu tác

động môi trường

- Vùng trông cây phê, chè giá tr kinh tế thì nên s dụng phương pháp bng cây, chuyn cây hiu qu nhanh hơn

9. Ông Chánh:

- D án Tân Rai: Khi lp chi phí 109USD (2001), nếu bán

được 210USD thì hiu qu. Hin nay TKV chưa thiết kế kỹ thut, đu vào chưa chun, tính toán không chun. Khi b thu thp, khi kết giá tăng nên giá thành đội lên, cần điu chnh, tính toán li.

- Chi phí vn hành, nhân công ca ta r nên d án vn tính cạnh tranh

Phát biu ca YNôngKBeo Chủ tch HĐND tnh ĐăkNông: Tác đng ca d án khai thác baxite sn xut Alumine đối với sự phát trin kinh tế - xã hi tnh Đăk Nông ( báo cáo kèm theo)

Phát biu ca ông Hoàng Sỹ Sơn- TVTU, PCT TT UBND tnh Lâm Đồng: Tác động ca d án khai thác baxite sn xut Alumine đối với sự phát trin kinh tế - hitnh Lâm Đồng: ( báo cáo kèm theo)


10. PGS TS Nguyn Đình Hòe Hi BVTNMT VN: (có báo cáo kèm theo)

11. PGS, TS Ngc Thắng TTK Hội Dân tc học: (Có báo cáo kèm theo)

12. Gs Hin:

- Cần tư duy đ phát trin: Khai thác Bauxit đấm phát trin kinh tế? Liu phi vy không? ti sao phi liên doanh với nước ngoài nhiu d án? Chúng ta tích lũy kinh nghim và tiến tới độc lp m, thm chí độc lp làm mà không n liên kết

- Vn đ môi trưng: cần đánh giá môi trường chiến c, biến đổi khí hu. liu xy ra thm họa môi trường? vn đ là cn cái tâm.

- Đã đến lúc phi dng li suy nghĩ: Tăng trưởng kinh tế trước, môi

trương sau.

Kết lun; chính phủ phi tư duy li vn đ nay

13. TS Phm Đăng Định:

- Công ngh ca TKV tiếp nhn phi CN nguồn hay o? phi công ngh tiên tiến không?

Trả lời chất vấn:

Ông Nguyn Mnh Quân V trưởng Vụ CNN nặng:

- Ti sao không phi trình QH? d án bauxite chưa đến mc phi

trình QH ( Theo NQ 66 NQ/QH)

- Cơ sđ XD dán không phi là NQ ca Đng ( chỉ là tham kho)

- D án s tăng thu ngân sách cho các tỉnh… Động lực phát trin cho

Tây Nguyên

- Quy hoch vội vã, tham vng: chúng ta đã quá chm, đã t chức nhiu cuộc họp… Tham vọng, nhưng s.

- Quy trình ln ngược: Chưa được phê duyt đã trin khai

- Vn đ môi trường có qun giám sát được hay không/ trách nhim nàydo B TN&MT các đa phương

- Nht trí với vn đ soát cp nht li, điu chnh quy hoch

Ông Đoàn Văn Kin- Ch tch H Đ QT TKV:

- 2 d án này 100% vn ca TKV, các nhà ĐT nước ngoài ch cung

cấp công ngh.

- V hiu qu kinh tế như ý kiến ca TS Ban va TS San: TKV tính toán dựa trên nhng d báo đ tính toán dán s hiu qu


- Dựa vào các điu kin c th ca nước ta với các nước đ tính toán. Giá thành ca h cao hơn ca ta

- D án s nhng năm b l nhưng tính tổng c quá trình hiu qu.



- Ti sao không làm mà liên doanh?

- Công ngh TQ hay CN nưc khác? Các ch tiêu nhà thu cam kết


phù hp với chỉ tiêu mời thu

- Vn đ đin: do nhà máy nhit đin cung cấp ca nhà máy

- Ngun nước: tự xây dng đp đã tha thun với đa phương

- Vn đ hoàn th: s hp tác với các nhà khoa hc đ hoàn thổ nhưng không th tuyt đối được

- Vn đ đt đai; Thuê đt tm thời c dân trả li cho họ sau hoàn th



- Vn đ đỏ: s dụng công ngh thi ướt

- Vn đ trng phêm cao su: Đt khai thác đt không hiu qucao khi trng cây.


- V Vn đ hội: s giúp người nghèo gim nghèo, to vic làm, phát trin hài hòa vi đa phương cộng đồng.

- Vn đ an ninh quốc phòng: Tng Công ty s góp phn đm bo ANQP

KT LUẬN CA PHÓ THỦ TƯỚNG HOÀNG TRUNG HẢI:

- Đây mt hội tho nhiu ý kiến tâm huyết, đ ngh c b ngành, các doanh nghip đc bit la TKV cnu tâm

- Chúng ta dựa trên nhng d báo nhưng gn đây nhiu d báo không chun

xác không chđối với VNc quốc tế

- V Ch trương: vic khai thác đúng ch trương. Chúng ta trư lưnglớn v bauxite nhưng chung ta không th khai thác, phát trin bng mi giá. D án xây dng là tt, cam kết tt nhưng khi thực hin không như vây, Slo lng ca các nhà KH, các đi biu cơ s. Chúng ta không thkhai thác làm cho dân đói nghèo.

- Cần s điu chnh quy hoch cho phù hp với tình hình chung

- V d án Tân Rai đã nghiên cứu từ nhng năm 90, không phi duy theo nhim kỳ.

- Quy hoch, đánh giá Đ TM cn phi đưc tiến hành, nht là dán Nhân cơ

- Cơ s hạ tng yếu; phi phát trin đường st trên cơ s tính toán c th.

- Hai dán này tính cht thí đim.


- V quy hoch, tính toán hiu qu cần đánh giá li, tính toán li cho phù hp với tình hình chung nht là tác động ca khủng hong kinh tế toàn cu.

- V Đ TM chiến lược chung ta ch mới đt đưc 20% chúng ta không đủ ngun lực nht là nhân lực c cơ quan tư vn.

- Cần phi có s đánh giá li các quy hoch. quy hoch nhưng quy hoch đảm bo cht lượng không?

- V vn đ chiếm đt, rng: không phi là nhiu nhưng vn đ tác động MT đối với Dtích còn li. vn đ tác động vào đt NN, đt sinh hot như thế no: Đây là vn đ khó cn tính toán k, giám sát lên mt kế hoch c th. Ch đu phi kế hoạch ly đt, kế hoch hoàn th đ các cp các ngành giám sát.

- Vn đ x nước thi, x môi trưng cần thực hin, giám sát nghiêm túc.



- Vn đ công ngh: cần làm ch CN nhp đ sáng to CN riêng mình

- Cần giám sát cht ch vn đ công ngh thi công

- Theo dõi sát sao th trường đ điu chnh quy hoch, kế hoch

- V cơ s h tng: chưa d trin khai d án đường st cần cân đối chung toàn quc. Còn riêng hai d án cần tiếp thu ý kiến ca các nhà khoa hc đ cho hp


- Vn đ cung cấp nước: cn xem t trong quy hoch tng th toàn vùng Nam b sự tham gia ca các B ngành liên quan

- Vn đ đin: không lợi thế đ sn xut nhôm nên chung ta dng li Alumina. Cn tính toán đến kh năng phát trin nhôm

- V nguồn nhân lực ca d án: hướng đi ca TKV đúng, cần chú trng ngay từ bây gi

- Hiu qu kinh tế: theo tính toán ca TKV trên 10%, nhưng theo s biến động như hin nay ca thế giới nên B Công thương TKV cần tính toán li, nếu không lãi, không làm.

- V vn đ văn hóa, bn sc: nhng gii pháp đưa ra chưa an tâm. Cn có s quan tâm đến văn hóa, an ninh. Cần s giám sát cht ch các hp phn ca d án nht là vn đ di dân, tái đnh cư

- Vn đ môi trường: cần phi chú trng đc bit. Cn x nhưng vn đề làm không? đu kinh phí đy đ không, giám sát được không?

- Chính ph tiếp thu nghiêm túc các ý kiến giao cho các b, ngành thc hin mt số vic:

+ B ng Thương xem xét li vn đè quy hoch; phi hp giám sát cht ch; xem xét li các gii pháp, thm đnh li vic x bnf đỏ; phối hp với các ngành tính toán li hiu qu kinh tế

+ B tài nguyên &MT thăm tính toán li trữ lượng; thm đnh kế hoch, xem li vn đ thu hi đt, vn đ hoàn th; vn đ nước cho c vùng, c nưc; phối hp với các đa phương giaism t v MT


+ B KH&CN: caadn phi hp thm định, giám sát công ngh

+ b NN&PTNT; giám sát vn đ đt nông nghip, hoàn tr đt…

+ Các tnh m: cần tuyên truyn, phi hp t chức thực hin, đc bit công tác tái đnh cư, đn bù gii phóng mt bng

+ Đi với TKV: Đi với d án Nhân Cơ phái Đ TM mới được khởi công;

phi đảm bo tt vn đ MT, vn đ hoàn th; phi tính toán li hiu qu kinh , huy đng vốn… lp thiết kế k thut x lý n đ đ B CT thm đnh mới được thực hin…

Đ/c Vũ Huy Hoàng - B trưng B Công Thương Tổng kết hội tho:

- Các B, ngành đơn v liên quan thực hin nghiêm túc kết

lun ca đ/c Phó Th tướng CP

- Cm ơn quý vđi biu

Hi tho kết thức hồi 18h15 cùng ngày

THƯ NGỎ CỦA MỘT CON DÂN NƯỚC VIỆT GỬI THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

THƯ NGỎ CỦA MỘT CON DÂN NƯỚC VIỆT GỬI THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Nhà văn Phạm Đình Trọng
Thành phố Hồ Chí Minh  ngày   2  tháng  3  năm  2009

Kính gửi: Ông NGUYỄN TẤN DŨNG , THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Thưa Ông Thủ tướng

Tôi là Phạm Đình Trọng, công dân Việt Nam, đang sống trên dải đất gấm vóc Việt Nam. Là người lính, tôi đã trải qua trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, tôi đã đi từ mảnh đất cực Bắc, Vị Xuyên tỉnh Hà Giang đến mảnh đất cực Nam của đất nước, đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu tỉnh Kiên Giang, tôi đã đi từ Trường Sơn đến Trường Sa. Dặm đường đất nước ấy đã cho tôi thấy đất nước Việt Nam thân yêu của tôi gấm vóc như thế nào. Là nhà báo, nhà văn quân đội, tôi đã viết về sự hi sinh vô cùng to lớn của nhân dân và đồng đội của tôi trong cuộc kháng chiến chống Mĩ giành độc lập, thống nhất đất nước, tôi cũng đã viết về những mất mát hi sinh đau lòng mà đồng đội thân yêu của tôi đã phải nhận lấy để giữ từng mỏm đất ở Vị Xuyên, Hà Giang, để giữ từng doi cát san hô ở Trường Sa ngòai biển đông. Sự hi sinh cao cả ấy, máu của nhân dân và đồng đội tôi hôm nay, máu của cha ông chúng ta đã đổ ra trong suốt chiều dài lịch sử giữ nước hôm qua đã cho tôi thấy từng nắm đất của Tổ quốc Việt Nam thiêng liêng như thế nào! Nhưng những diễn biến của những năm tháng lịch sử vừa qua lại cho tôi thấy những người có trách nhiệm quản lí đất nước của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không những đã không giữ được trọn vẹn dải đất Việt Nam gấm vóc và thiêng liêng mà cả đến việc khai thác tài nguyên đất nước dường như cũng không vì lợi ích của đất nước Việt Nam, không vì nhân dân Việt Nam!
Dân biết. Dân bàn. Dân làm. Dân kiểm tra. Đó là điều nhà nước ta vẫn thường nói, vẫn đề cao. Là công dân Việt Nam, tôi cần được bàn, được có ý kiến về vấn đề nghiêm trọng này. Là đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam, đảng cầm quyền, tôi càng cần có trách nhiệm, có tiếng nói về việc vô cùng hệ trọng này.
Định mệnh đã đặt đất nước chúng ta cạnh nước lớn phương bắc Trung Hoa, một đất nước mênh mông rộng lớn nhưng trập trùng núi hiểm, cuồn cuộn sông dữ, phần đất bằng còn lại thì nơi hạn hán đồng khô cỏ cháy, nơi lũ lụt lút cả huyện, cả tỉnh! Dân số lại quá đông, người dân khốn khó luôn đói đất, thèm đất làm ăn! Còn người cai trị đất nước mênh mông ấy thì từ xa xưa đến nay vẫn tự huyễn hoặc là Thiên tử, là con Trời, mang mệnh Trời thống trị thiên hạ, mở mang bờ cõi Trung Hoa! Suốt quá trình lịch sử, nước láng giềng khổng lồ phương Bắc ấy, thời nào, triều nào cũng lăm le lấn bờ, lấn cõi nước ta!
Dải đất Việt Nam gấm vóc còn được dài rộng đến hôm nay là nhờ lòng yêu nước nồng nàn, nhờ ý thức dân tộc sâu đậm, nhờ nền văn hóa Lạc Việt đã tạo ra cho người Việt bản sắc riêng không thể bị đồng hóa với những nền văn hóa khác, nhờ ý chí quật cường bất khuất, nhờ xương máu hi sinh của nhiều thế hệ người Việt đã đổ ra trong sự nghiệp giữ nước và điều quan trọng hàng đầu là nhờ người đứng đầu trăm họ người dân nước Việt đã đủ khôn khéo, tỉnh táo trong đối sách với mưu đồ lấn cõi, chiếm đất của phương Bắc, đã biết đặt lợi ích của dân tộc Việt Nam, đặt lợi ích của đất nước Việt Nam lên trên lợi ích riêng tư của vương triều.
Lịch sử đã dạy cho những triều đại phương Bắc hiểu rằng chiếm đất bằng sức mạnh của đội quân  khổng lồ và thiện chiến không khó nhưng không bền! Vì đó là sự chiếm đọat phi pháp, sớm muộn người Việt, dù là dân tộc nhỏ bé nhưng có ý thức dân tộc rất cao và có lịch sử giữ nước rất anh hùng sẽ giành lại phần đất thiêng liêng bị mất. Trong lịch sử đã nhiều lần nhà nước khổng lồ phương Bắc chiếm được đất của nhà nước nhỏ bé phương Nam nhưng chưa lần nào họ nuốt trôi! Chỉ bằng cách ve vãn mua chuộc kẻ có quyền để có được những thỏa thuận kí kết nhượng đất, nhượng cõi rất đàng hòang, hợp pháp, họ mới nuốt trôi được mảnh đất cắt nhượng đó! Đó là khi người Pháp chiếm nước ta, triều nhà Thanh phương Băc liền kí với người Pháp hiệp ước Thiên Tân năm 1885, cho người Pháp chút lợi lộc buôn bán trên đất Trung Hoa để người Pháp cắt một số vùng đất Việt Nam ở biên giới phía Bắc cho nhà Thanh nhập vào các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông của Trung Hoa!
“Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào lại có thể vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di!” Đó là lời chỉ dụ của vua sáng Lê Thánh Tông cho sứ thần nhà Lê đàm phán về cương vực lãnh thổ với sứ thần nhà Minh. Đó cũng là tiếng nói nghiêm khắc của lịch sử, của hồn thiêng sông núi Việt Nam với những người nắm quyền quản lí đất nước Việt Nam mọi thời đại!
Những người mang dòng máu con Hồng cháu Lạc ở cương vị quản lí đất nước trong quá khứ đều là những người khoa bảng, có đạo lí trung với nước, hiếu với dân, thông thuộc lịch sử nước nhà, có trí lự và khí phách dân tộc, họ đã kiên định tranh biện, không cho nước lớn lấn lướt, áp đặt, giữ được vẹn tòan đất đai gấm vóc nước Đại Việt. Còn chúng ta hôm nay thì sao?
Lịch sử ông cha để lại dạy chúng ta bài học là để dân tộc tồn tại, để đất nước vẹn tòan, phải đưa giá trị dân tộc lên trên hết, phải đòan kết thương yêu dân tộc, Nhiễu điều phủ lấy giá gương – Người trong một nước phải thương nhau cùng! Nhưng hôm nay chúng ta đã làm ngược lại với điều cha ông đã dạy. Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm lí tưởng soi đường, lấy học thuyết đấu tranh giai cấp làm phương châm hành động, Quan san muôn dặm một nhà – Bốn phương vô sản đều là anh em! Chúng ta đã đưa giá trị giai cấp lên trên giá trị dân tộc! Người cùng dòng giống Lạc Hồng, rất mực yêu nước thương nòi, nhờ làm ăn lương thiện và hiệu quả mà có chút của ăn của để liền bị qui là giai cấp bóc lột, giai cấp đối kháng, trở thành kẻ thù của nhà nước công nông, bị xử lí tàn bạo! Nhưng năm 1958, khi nhà nước công nông Trung Hoa tuyên bố vùng biển của họ bao trùm cả quần đảo Hòang Sa, quần đảo Trường Sa của tổ tiên ta, với tinh thần quốc tế vô sản, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa liền có công hàm ủng hộ tuyên bố tham lam, bành trướng của nhà nước công nông phương Bắc!
Đưa giá trị giai cấp lên trên giá trị dân tộc làm cho ý thức dân tộc phai nhạt đi, làm dân tộc yếu đi! Dân tộc yếu đi thì tham vọng bành trướng sẽ lấn tới với đủ mưu chước, thủ đọan, phương thức lấn đất, lấn cõi. Miền Bắc nước ta vừa được giải phóng khỏi quân Pháp xâm lược, nước lớn phương Bắc liền xốt xắng ra tay hào hiệp nhận giúp Việt Nam khôi phục đường sắt Đồng Đăng – Hà Nội. Khi đó ở miền Bắc nước ta chỉ có nhà máy điện, nhà máy nước còn có thể cố ì ạch họat động, còn các nhà máy khác đều tanh bành, chưa thể khôi phục. Cả miền Bắc thất nghiệp! Lại thêm lực lượng lao động hùng hậu là cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết! Lực lượng lao động dư thừa nhưng với lòng tin tưởng và trân trọng tình cảm quốc tế vô sản, chúng ta đã mở rộng cửa ải phía Bắc đón hàng trăm công nhân đường sắt Trung Hoa vào Lạng Sơn làm công việc cơ bắp đơn giản là san nền đường, rải đá, đặt đường ray và những công nhân đường sắt Trung Hoa đã đưa chỗ nối ray của tuyến đường sắt liên vận Việt –  Trung vào sâu lãnh thổ nước ta hơn ba trăm mét! Để rồi sau này họ lí sự là luật pháp không cho phép đường sắt nước này lại đặt trên lãnh thổ nước khác, vì thế chỗ nối ray chính là chỗ phân chia biên giới quốc gia!
Qua những vụ vịệc đất đai ở biên cương phía bắc, có thể dễ dàng nhận ra bài bản cướp đất của phương Bắc là: Lặng lẽ chiếm đất ở từng điểm nhỏ lẻ, rải rác, coi như đó chỉ là những vụ việc cục bộ, địa phương, nhà nước trung ương không hay biết! Nhà nước trung ương cứ cao giọng nói hữu hảo, cứ ban phát lời vàng hữu nghị nhưng cục bộ cứ lấn đất, chiếm đất, lặng lẽ mà chiếm, không gây ồn ào thành sự kiện quốc gia là được! Cả hệ thống truyền thông khổng lồ của ta cũng làm ngơ đồng lõa! Mấy con thú của công viên giải trí Đại Nam ở tỉnh lẻ Bình Dương xổng chuồng thì nhiều tờ báo ở thành phố Hồ Chí Minh có bài, ảnh đưa tin nhiều ngày, dõi theo từng dấu chân bầy thú vượt ngục! Nhưng ngày 29. 2. 1976 hàng ngàn quân phương Bắc mặc đồ dân sự tràn qua biên giới vào đất ta giăng thành hàng rào ở thác Bản Giốc, Cao Bằng, che chắn cho tốp thợ đổ bê tông cột mốc, chia cắt thác Bản Giốc làm đôi, chiếm nửa thác của ta thì không có tờ báo nào đưa tin! Không có tờ báo nào đưa tin ngày 4.3.1992, đòan người từ phương Bắc mang súng ống gậy gộc ầm ầm kéo đến bản Sẻo Lũng, mỏm cực bắc của nước ta thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang! Họ đốt phá nhà cửa dân ta rồi tuyên bố đất Sẻo Lũng là lãnh thổ Trung Hoa! Các báo không đưa tin vì không biết sự việc hay không được phép đưa tin? Phương Bắc gây sự lấn đất là việc thường ngày ở biên giới, tai mắt của các báo không thể không biết! Báo chí ở trung ương đã im lặng, báo chí của các tỉnh biên giới cũng lặng thinh thì lạ quá! Kẻ cướp xông vào tận nhà cướp bóc mà không bị chủ nhà hô hóan tố cáo thì kẻ cướp cứ làm tới, chiếm hết điểm cao này đến sườn núi khác! Nhiều thế đất có giá trị chiến lược về quân sự và kinh tế chiếm được rồi, lúc đó họ mới hối thúc ta đàm phán kí kết hiệp ước biên giới để hợp pháp hóa những mảnh đất hiểm yếu đã chiếm được! Năm 1885, được người Pháp cắt nhượng cho một rẻo đất Việt Nam ở biên giới phía Bắc thì năm 1887 có ngay hiệp ước biên giới Việt – Trung kí giữa nhà Thanh và chính quyền Pháp để phần đất Việt Nam bị cắt nhượng đó chính thức trở thành đất đai Trung Hoa!
Bài bản lấn đất này đã diễn ra từ trong xa thẳm lịch sử nên vua sáng Lê Thánh Tông phải nhắc nhở bề tôi “kiên  quyết tranh biện”! Tranh biện trong đàm phán với phương Bắc để giữ được đất đai thiêng liêng là vô cùng quan trọng. Chúng ta chưa nhận thức được đầy đủ điều này hay vì lẽ gì chúng ta không thể tranh biện? Phương Bắc biết rằng mảnh đất của ta bị họ chiếm sẽ là trở ngại khó vượt qua trong đàm phán về hiệp ước biên giới nên họ lại định ra cả thời hạn phải hòan thành đàm phán, thời hạn phải hòan thành cắm mốc và ta cứ răm rắp thực hiện!
Tranh biện để giữ lấy đất đai tổ tiên là trí lự kẻ sĩ, là khí phách dân tộc. Ôi chao, ý thức dân tộc đã làm nên nền văn minh sông Hồng, đã làm nên nền văn hóa Lạc Việt,  khí phách dân tộc đã làm nên những chiến công hiển hách chống ngọai xâm Bạch Đằng, Đống Đa, Điện Biên Phủ đâu rồi? Trí lự kẻ sĩ Đại Việt đâu rồi? Trong lịch sử, triều đại nào cũng phải đưa những kẻ sĩ, những lõi sáng dân tộc, những tinh hoa Đại Việt như Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trực . . . ra tranh biện với phương Bắc.
Ngày nay người đi đàm phán đã có chủ trương, chỉ đạo của đảng, như quan tòa ngồi xử các vụ án có liên quan ít nhiều đến chính trị đều có sẵn bản án bỏ túi, cứ theo bản án đã có trong túi mà xử! Người đi đàm phán chỉ cần có hàm quan chức cấp bộ và có cấp ủy đảng tương đương, ủy viên ban cán sự đảng cấp bộ là ổn! Kết quả đàm phán đã có từ trước đàm phán rồi, đâu cần kẻ sĩ, đâu cần tranh biện! Vâng, kết quả đàm phán đã có từ trước đàm phán rồi, điều này đã được tuyên bố chung Vịêt – Trung nhân chuyến đi Trung Hoa của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tháng năm, năm 2008, tiết lộ: “Hai nước sẽ thiết lập đường dây nóng giữa các nhà lãnh đạo . . . Việc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải giữa hai nước, hai bên phải tôn trọng những kí kết của lãnh đạo đã thỏa thuận trong quá khứ”! Viết “hai bên phải tôn trọng những kí kết . . .” cho có vẻ bình đẳng thôi! Chỉ có Trung Hoa lấn đất của ta, ta đâu dám động đến đất đai Trung Hoa! Trong đàm phán, ta không chấp nhận sự lấn chiếm đó nên mới có đôi co, tranh chấp! Chỉ có Việt Nam tranh chấp đòi lại đất mà thôi! Vì thế nội dung thực sự của lời tuyên bố chung là: “Việc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải giữa hai nước, Việt Nam phải tôn trọng những kí kết của lãnh đạo hai nước đã thỏa thuận trong quá khứ”! Lãnh đạo đã thỏa thuận rồi thì người đàm phán còn tranh biện gì nữa!
Ông thứ trưởng bộ Ngọai giao Lê Công Phụng rồi đến ông thứ trưởng Vũ Dũng kế nhiệm làm trưởntg đòan Việt Nam đàm phán về hiệp ước biên giới với Trung Hoa, khi trả lời phỏng vấn của báo chí trong nước và ngòai nước đều nói rằng không có chuyện mất đất! Nhưng thực tế đất đã mất, biển đã mất rồi! Dư luận hỏi, hai ông không thể nói rằng đúng, chúng ta đã phải kí kết hiệp ước để mất đất, mất biển nên hai ông phải nói thế cho qua chuyện mà thôi! Còn người dân ở biên giới và những người Việt Nam nhìn thấy rõ sự việc mất đất thì nói khác!
Tiếp đòan nhà văn Việt Nam lên biên giới Cao Bằng, bà Nguyễn Thị Nương, ủy viên trung ương đảng, bí thư tỉnh ủy Cao Bằng, nói: Đường biên phân chia lại, có chỗ đất bên bạn thuộc về ta, có chỗ đất bên ta thuộc về bạn, nhưng bên ta thuộc về bạn nhiều hơn! (Đỗ Hòang. Cực Bắc bao nỗi lo toan. Tạp chí Nhà Văn, hội Nhà Văn Việt Nam, số 1.2008, trang 55).
Đó là cái nhìn khái quát của người lãnh đạo. Còn mắt người dân thì thấy cụ thể hơn. Nhà văn Đỗ Hòang, tác giả bài bút kí Cực Bắc bao nỗi lo toan vừa dẫn ra ở trên, kể: Tôi đến thác Bản Giốc gặp cụ Nông Văn Thà làm ruộng bên thác kể rằng: Hồi còn nhỏ, nhà cụ dựng ở bên kia thác Bản Giốc, cụ theo bố vào sâu cách thác 12 km để làm rẫy (Bài đã dẫn, trang 54) Nhà văn Đỗ Hòang viết tiếp: “Bây giờ phân giới, phần thác đã nằm phía bên bạn hơn phần nửa! Các cột mốc phải cắm đi cắm lại nhiều lần” (Bài đã dẫn, trang 58) Vẫn bài bút kí Cực Bắc bao nỗi lo toan, nhà văn Đỗ Hòang viết về đường biên giới ở Lạng Sơn: “Riêng tôi chứng kiến là năm 1973, khi tôi lên Lạng Sơn nhìn thấy Mục Nam Quan là của bộ đội mình đứng gác. Nhưng tháng 5 năm 2006 vừa qua, tôi cùng đòan nhà văn Việt Nam ở Trung Quốc về qua cửa khẩu Lạng Sơn thì thấy cổng Hữu Nghị Quan và nhiều ngôi nhà xây từ thời Pháp đã ở trên đất bạn . . . Đường biên lùi sâu vào đất ta đến năm sáu trăm mét! Đấy là điều không phải chỉ tôi mà nhiều người nữa cũng rất day dứt, băn khoăn, mặc dù tôi chỉ là một thường dân và tự hỏi: Mình như gái góa lo việc triều đình! Nhưng cổ nhân đã dạy: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách, nhà nước thịnh suy, một dân thường cũng phải có trách nhiệm lo lắng, bảo vệ. Việc này luôn bức xúc và canh cánh trong lòng tôi!” (trang 55)
Là bộ đội Nam tiến, tập kết ra Bắc, là chiến sĩ biên phòng ngay từ khi thành lập lực lượng này, rồi trở thành sĩ quan tuyên huấn, anh sĩ quan tuyên huấn bộ đội biên phòng Lương Sĩ Cầm đã nhiều lần đến cửa khẩu Hữu Nghị ở Lạng Sơn, sau này trở thành nhà văn, đại tá bộ đội biên phòng, trong bài viết về cửa khẩu Hữu Nghị ở Lạng Sơn, nhà văn, đại tá Lương Sĩ Cầm, viết: Năm 1955, lấy cớ giúp Việt nam khôi phục đường xe lửa, bọn bành trướng đã cho đặt điểm nối ray vào sâu đất Việt Nam 326 mét, đến năm 1974, nghĩa là ngót hai mươi năm sau, chúng trắng trợn tuyên bố điểm nối ray ở đâu là đường biên giới chạy qua đó, hòng cướp của ta một dải đất ăn sâu đến tận chân đồn Hữu Nghị Quan!
Sự thật cay đắng như vậy đó!
Tháng 1 năm 1974, phương Bắc dùng lực lượng hải quân, không quân hùng mạnh đánh chiếm của chính quyền Sài Gòn tòan bộ quần đảo Hòang Sa trải dài hàng trăm kilomet. Quần đảo Hòang Sa bị mất trắng bằng vũ lực, bằng cuộc xâm lăng trắng trợn chúng ta còn có thể nhờ luật pháp quốc tế phân xử, đòi lại. Bằng cách này hay cách khác nhất định chúng ta sẽ giành lại được quần đảo Hòang Sa đã thấm đẫm máu ông cha ta, còn lưu giữ hài cốt nhiều thế hệ ông cha ta! Xã hội càng văn minh, con người càng biết tôn trọng luật pháp và đạo lí, con người càng có nhu cầu sống trong luật pháp và đạo lí. Thế hệ chúng ta chưa đòi lại được quần đảo Hòang Sa thì thế hệ con chúng ta, cháu chúng ta sẽ đòi được. Đó là điều chắc chắn. Nhưng một phần thác Bản Giốc ở Cao Bằng, hàng trăm mét chiều sâu đất đai ở Đồng Đăng Lạng Sơn, những điểm cao ở Vị Xuyên, Yên Minh, tỉnh Hà Giang, những điểm cao ở Cao Lộc, Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn bị Trung Hoa chiếm trong cuộc chiến tranh biên giới 1979 – 1988, những mảnh đất gấm vóc thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam đã trở thành đất đai Trung Hoa bởi hiệp ước biên giới do hai bên cùng thỏa thuận kí kết năm 1999 thì làm sao có thể đòi lại được, thưa ông Thủ tướng?
Ở cạnh nhà nước phương Bắc khổng lồ luôn lăm le thôn tính, bành trướng, cha ông ta vẫn đứng vững và bảo tòan được bờ cõi là nhờ văn hóa Lạc Việt và nhờ ý thức dân tộc rất sâu sắc của người dân nước Việt, từ bậc đế vương ngồi trên ngôi báu đến người dân đen nơi xóm vắng.
Nền văn hóa Lạc Việt tuy không chói lọi tỏa sáng khắp thế giới nhưng cũng đủ làm nên sự khác biệt của cốt cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam. Văn hóa Lạc Việt đã tạo ra điệu hát chèo ở miền Bắc, điệu hát lí ở miền Nam, tạo ra kho tàng văn hóa dân gian đồ sộ, tạo ra ca dao, dân ca miền Bắc, miền Trung, miền Nam, mỗi miền một nét độc đáo riêng, tạo ra những bản trường ca, những khúc sử thi hùng tráng Tây Nguyên. Văn hóa Lạc Việt đã sản sinh ra trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ, sản sinh ra cồng chiêng Tây Nguyên. Tiếng trống đồng, tiếng cồng chiêng luôn âm vang trong không gian sông núi nước Việt. Điệu chèo điệu lí luôn tha thiết trong tâm thức người Việt, tạo nên bản sắc tâm hồn Việt.
Ý thức dân tộc “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” tạo ra truyền thuyết Hùng Vương để mà tự hào, tạo ra truyền thuyết Mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng nở ra trăm con để nhắc nhở đoàn kết thương yêu dân tộc. Ý thức dân tộc bao giờ cũng đưa Tổ quốc lên trên hết. “Tổ quốc trên hết!”, “Hi sinh vì Tổ quốc!”, nhờ thế Tổ quốc Việt Nam mới vững vàng tòan vẹn đến hôm nay. Nhưng ngày nay nhà nước ta lại đưa đảng lên trên hết!
Tổ quốc cho ta khái niệm, cho ta ý thức về đất nước, về nhân dân, về dân tộc. Đảng cho ta khái niệm về một giai cấp, một học thuyết, một lực lượng xã hội. Đạo lí dân tộc và chữ nghĩa thánh hiền đều dạy con dân nước Việt là Trung với Nước, Hiếu với Dân. Đưa Tổ quốc lên trên hết nên ngày mới giành được độc lập sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, ở những nơi công quyền đều có bàn thờ Tổ quốc với hàng chữ trang trọng, thiêng liêng “Tổ quốc trên hết”. Đưa Tổ quốc, đưa đất nước lên trên hết nên phong tục từ ngàn đời của người Việt là mùa xuân về, nơi nơi mở hội mừng đất nước thái bình, thịnh vượng, mùa xuân về, người người đi lễ Trời, Phật cầu mong mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Ngày nay nhà nước dạy con dân nước Việt là Trung với Đảng, Hiếu với Dân, mùa xuân về thì Mừng đảng, Mừng xuân! Dù đảng có công lao lớn với dân tộc trong giai đọan lịch sử vừa qua nhưng không thể đưa đảng lên trên Tổ quốc, trên dân tộc, không thể lấy khái niệm đảng thay khái niệm Tổ quốc, thay khái niệm dân tộc! Trung với Đảng, Hiếu với Dân thay cho Trung với Nước, Hiếu với Dân, Mừng Đảng, mừng Xuân thay cho Mừng Xuân, mừng Đất nước là sự thiếu khiêm tốn, thiếu lễ nghĩa, “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, là đặt đảng không đúng vị trí của đảng, là lấn át, hạ thấp Tổ quốc, hạ thấp đất nước, hạ thấp dân tộc! Trong khái niệm, trong ngôn từ chỉ có đảng! Khái niệm Tổ quốc bị gạt bỏ, mất hút thì ý thức dân tộc cũng phai nhạt, chìm khuất!
Ý thức dân tộc bị coi nhẹ đến đau lòng còn biểu hiện ra trong việc làm, trong hành xử của nhà nước với dân! Thanh niên, sinh viên, học sinh tập hợp trước sứ quán Trung Hoa, ôn hòa phản đối Trung Hoa sát nhập quần đảo Hòang Sa, quần đảo Trường Sa vào lãnh thổ Trung Hoa. Đó là nền văn minh Lạc Việt lên tiếng, là ý thức dân tộc Việt Nam lên tiếng! Nhà nước dùng công cụ bạo lực trấn áp tiếng nói chính đáng của nền văn minh Lạc Việt, trấn áp ý thức dân tộc chính đáng của nhân dân, tài sản vô giá làm nên sự trường tồn của non nước Việt Nam, đó là một cư xử thiếu văn minh với nền văn minh Lạc Việt, là chối bỏ ý thức dân tộc của nhân dân!
Tham vọng bành trướng của phương Bắc phải chững lại  trước ý thức dân tộc rất sâu sắc, rất mạnh mẽ của vua tôi nước Việt. Ý thức dân tộc vơi hụt đi, lập tức phương Bắc sẽ lấn tới! Ở nơi núi liền núi, sông liền sông, biển liền biển thì họ sẽ lấn núi, lấn sông, lấn biển. Tài nguyên ở sâu trong lãnh thổ ta, họ không lấn chiếm được thì họ sẽ đưa người đến tận nơi, khai quật tài nguyên trong đất đai ta đưa về nước họ phát triển kinh tế của họ! Hàng trăm công dân phương Bắc mới đến Tây Nguyên hôm qua rồi hàng ngàn người sẽ đến nay mai là để làm điều đó!
Lạ quá, qui họach khai thác bô xít ở Tây Nguyên mới được Chính phủ phê duyệt, luận chứng kinh tế kĩ thuật đang sọan thảo, các nhà khoa học còn đang tranh luận nên hay không nên khai thác bô xít ở Tây Nguyên, thế mà công dân Trung Hoa, người cầm bản đồ, người mang cưa máy, người cuốc, người xẻng đã xục xạo ở Tây Nguyên! Dư luận người dân Việt Nam đang lo ngại, đang xôn xao bàn tán về tính hiệu quả, về thảm họa môi trường khi khai thác bô xít Tây Nguyên và càng lo ngại hơn khi hàng ngàn trai tráng Trung Hoa sẽ có mặt đông đảo, trùng trùng đội ngũ ở Tây Nguyên, trung tâm bán đảo Đông Dương, khi đó ông Thủ tướng mới tuyên bố rằng khai thác bô xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước! Chủ trương lớn của đảng và nhà nước mà Quốc hội của dân chưa được bàn định thì người Trung Hoa đã xắn tay áo thực hiện chủ trương lớn của đảng và nhà nước ta rồi! Điều này làm cho người dân phải đặt câu hỏi: Chủ trương lớn khai thác bô xít Tây Nguyên có thực sự vì đất nước Việt Nam, có thực sự vì nhân dân Việt Nam. Tôi lại nhớ đến câu văn trong tuyên bố chung Việt – Trung mà Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã kí với Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào tháng 5 năm 2008 ở Bắc Kinh: Hai nước sẽ thiết lập đường dây nóng giữa các nhà lãnh đạo . . . Việc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải giữa hai nước hai bên phải tôn trọng những kí kết của lãnh đạo đã thỏa thuận trong quá khứ!
Việt Nam mới có vài xưởng cơ khí nhỏ bé sửa chữa những hư hỏng nhẹ của máy bay. Những xưởng sửa chữa máy bay đó như những tiệm sửa xe máy vỉa hè của ngành mô tô mà thôi! Việt Nam chưa có công nghiệp hàng không, lại càng không mơ đến công nghiệp vũ trụ! Vì thế, Việt Nam không có nhu cầu lớn và bức thiết về nhôm.
Nhu cầu lớn và bức thiết về nhôm là Trung Hoa! Với tham vọng bành trướng, Trung Hoa đang khao khát trở thành cường quốc quân sự và cường quốc vũ trụ. Muốn trở thành cường quốc quân sự phải có số lượng lớn vũ khí chiến lược tầm xa hiện đại nhất. Công nghiệp vũ trụ luôn gắn liền với công nghiệp hàng không. Công nghiệp vũ trụ, công nghiệp hàng không và vũ khí chiến lược tầm xa cần rất nhiều nhôm. Hiện nay Trung Hoa là nước sản xuất và tiêu thụ nhôm lớn nhất thế giới. Trung Hoa cũng có nhiều mỏ bô xít nhưng trữ lượng nhỏ. Trữ lượng bô xít của Trung Hoa chỉ bằng 2% trữ lượng tòan cầu. Đang hối hả khai thác bô xít trong nước thì Trung Hoa phải dừng lại! Có mỏ bô xít Trung Hoa đã đầu tư tới gần hai tỉ đô la vừa đưa vào khai thác cũng phải đóng cửa vì thảm họa môi trường! Ngòai lượng bùn đỏ, red mud, ngập ngụa làm tan hoang môi trường tự nhiên, giết chết màu xanh, sa mạc hóa một vùng rộng lớn, khai thác bô xít còn phải sử dụng nhiều hóa chất độc hại như sulfur dioxide. Vùng khai thác bô xit sa mạc đỏ xuất  hiện, khí hậu nóng lên, bệnh lạ và bệnh hiểm phát triển, cây trồng, vật nuôi không sống nổi! Trước tình cảnh đó, Trung Hoa phải đưa ra chính sách: Xuất khẩu thảm họa môi trường và nhập khẩu nhôm thô, alumina, nguyên liệu về luyện thành nhôm kim lọai, alminium, để thỏa mãn tham vọng phát triển công nghiệp vũ trụ, công nghiệp hàng không và công nghiệp sản xuất vũ khí chiến lược tầm xa.
Cả lục địa đen châu Phi đã trở thành bãi khai mỏ của Trung Hoa, cung cấp nguyên liệu thiết yếu cho cả nền công nghiệp nhiều tham vọng của Trung Hoa. Trung Hoa ồ ạt đưa người đến châu Phi khai mỏ dầu ở Sudan, Nigéria, Angola, khai mỏ đồng ở Zambia, Congo, khai mỏ sắt ở Libéria và khai mỏ bô xít ở Guinea. Có một điều rất đáng chú ý là, những nước châu Phi cho Trung Hoa đến rút ruột tài nguyên phần lớn là những nước độc tài, tham nhũng và các tổ chức quốc tế đã lên án mạnh mẽ Trung Hoa chỉ cốt khai thác thật nhanh, thật nhiều tài nguyên của các nước mà không hề quan tâm đến môi trường, sinh thái nơi khai thác, sẽ để lại hậu quả bi thảm cho môi trường sống ở những nơi đó!
Trữ lượng bô xít ở Guinea không lớn lại quá xa xôi với Trung Hoa. Phải vận chuyển lượng lớn nhôm thô, alumina, đi chặng đường gần hai mươi ngàn cây số bịển dữ, vừa quá tốn kém, vừa nhiều bất trắc, trở ngại! Trong khi bô xít ở Tây Nguyên Việt Nam có trữ lượng khá lớn lại kề cận với Trung Hoa. Thế là người Trung Hoa mau mắn đặt chân lên mảnh đất bô xít có màu tím lịm như miếng tiết gà ở Tây Nguyên nước ta! Và chúng ta cũng chấp nhận để Tây Nguyên nước ta trở thành bãi khai mỏ của người Trung Hoa với những hậu quả bi thảm cho môi trường Tây Nguyên sao?
Khai thác bô xít Tây Nguyên, các nhà khoa học đã nói về hiệu quả kinh tế không lớn, không đáng với những thiệt hại quá lớn về môi trường. Các nhà khoa học đã nói về những bất cập: Khai thác bô xít cần quá nhiều nước mà hằng năm Tây Nguyên đều có hơn nửa năm khát nước; Khai thác bô xít cần quá nhiều điện mà nước ta đang thiếu điện. Các nhà khoa học đã nói về hiểm họa: Khai thác bô xít thải ra khối bùn đỏ khổng lồ đặt chênh vênh trên nóc nhà ba nước Đông Dương.
Khoan nói đến thảm họa bùn đỏ, chỉ cần nhớ lại mấy trận lũ quét gần đây. Từ nguồn ra biển của các con sông miền Trung đều rất ngắn, độ dốc rất cao, rừng cây có vai trò rất lớn trong việc giữ nước làm gỉam lượng nước của các con lũ. Chỉ mấy tên cướp rừng chặt trộm mấy cánh rừng ở Gia Lai, ở Lâm Đồng, ở Đắc Nông mà suốt nhiều năm liền, cả dải đất miền Trung liên tiếp bị lũ quét, mỗi năm quét đi hàng chục mạng người, quét đi đất màu, nhà cửa, hoa màu hàng trăm ngàn hecta! Khai thác bô xít Tây Nguyên, diện tích rừng bị phá còn lớn gấp trăm, ngàn lần diện tích rừng bị mấy tên cướp rừng tàn phá thì thảm họa sẽ còn lớn đến mức nào?
Không gian văn hóa Tây Nguyên đang bị thu hẹp nghiêm trọng. Nhiều năm qua, dòng người di dân tự do từ miền Bắc, từ đồng bằng miền Trung ồ ạt đổ bộ lên Tây Nguyên. Không gian văn hóa làng rừng Tây Nguyên đã bị thu hẹp rất lớn trước sự mở rộng của không gian văn hóa làng vườn của người Việt đồng bằng. Những sự biến nổ ra vừa qua ở Tây Nguyên chính là những phản ứng văn hóa, xung đột văn hóa. Nay hàng ngàn trai tráng Trung Hoa đến quần thảo, đào xới đất rừng Tây Nguyên. Họ không chỉ mang văn hóa Đại Hán “bình thiên hạ” mà họ còn mang cả thứ văn hóa của hàng hóa Trung Hoa, hàng hóa tiêu dùng hào nhóang, rẻ tiền và rất có ý thức chinh phục, chiếm lĩnh thị trường sẽ đổ vào Tây Nguyên! Biến Tây Nguyên thành một công trường không còn rừng cây, chỉ có ngổn ngang bùn đất, họ cũng biến Tây Nguyên thành cái chợ Trung Hoa! Rừng cây đại ngàn Tây Nguyên là cội nguồn văn hóa làng rừng đầy bản sắc Tây Nguyên. Rừng cây đại ngàn Tây Nguyên bị đào tận gốc, trốc tận rễ thì văn hóa làng rừng Tây Nguyên cũng bị đào tận gốc, trốc tận rễ!
Khai thác bô xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước. Nhưng khai thác bô xít Tây Nguyên cũng đặt ra những vấn đề rất lớn về độc lập dân tộc, về mục đích và hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nước, về môi trường sống và không gian văn hóa của đất nước.
Tòan vẹn lãnh thổ, độc lập dân tộc, tài nguyên và môi trường đất nước, tài sản văn hóa của dân tộc, vì những vấn đề lớn và nghiêm trọng đó, tôi mạo muội bộc lộ nỗi lo lắng của một con dân nước Việt, mong được Thủ tướng lưu tâm.
Trân trọng cảm ơn Thủ tướng

Kính thư

PHẠM  ĐÌNH TRỌNG
Nhà văn
A.  94 Phạm Văn Bạch, P.15, Q. Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
T.   091 8483 823
NƠI  NHẬN
. Thủ tướng NGUYỄN TẤN DŨNG
. Nhà thơ HỮU THỈNH, Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam
. Chi bộ P. 15, Q. Tân Bình, Tp. HCM
. Các cơ quan truyền thông

Kịch bản kinh tế Việt Nam năm 2009 và tác động cần làm nhằm ổn định kinh tế

Bài này phân tích tình hình hiện nay để nhìn kịch bản có khả năng xảy ra cho cả năm 2009 để từ đó tìm cách điều chỉnh tình hình hiện nay.

Tình hình thực về thống kê xuất nhập khẩu

Việc đầu tiên cần làm là xem xét lại các thống kê chính thức. Trước tiên cần thấy rằng thống kê về xuất nhập khẩu của Việt Nam không phản ánh đúng nguyên tắc mà các nước cần thực hiện theo chuẩn mực Liên Hợp Quốc khuyến nghị, mà hiện nay mọi nước trên thế giới đều chấp nhận, chỉ trừ Cuba và Bắc Hàn. Vàng trừ khi được sản xuất và dùng làm nguyên liệu trong sản xuất hoặc dùng làm đồ nữ trang thì mới có thể ghi vào tài khoản sản xuất, và có thể được nhập hay xuất. Vàng trường hợp này là hàng hóa. Khi vàng được dùng làm phương tiện thanh toán, gọi là tiền vàng (monetary gold) thì bán hoặc mua qua biên giới không được ghi vào xuất nhập khẩu vì chúng là tiền chứ không phải là hàng hóa, không ai ghi bán đồng Đô la Mỹ để mua đồng Yen của Nhật, tất nhiên qua biên giới, là xuất nhập khẩu cả.

Nếu chỉnh lại số liệu xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới của ba tháng đầu năm thì ta thấy là xuất khẩu không tăng mà giảm 15% (tính theo giá hiện hành bằng đồng USD). Như vậy 3 tháng đầu năm Việt Nam vẫn nhập siêu chứ không xuất siêu. Nhập siêu là 615 triệu USD. So với nhập siêu 3 tháng đầu năm 2008 là 1,5 tỷ thì giảm hơn một nửa. Tình trạng này hoàn toàn do khủng hoảng kinh tế thế giới gây ra. Nhu cầu của nước ngoài giảm mạnh do đó xuất khẩu giảm mạnh. Thật may mắn là nhập khẩu còn giảm mạnh hơn, tránh cho cuộc khủng hoảng tiềm tàng về cán cân thanh toán. Nhập khẩu giảm mạnh vì nhiều lý do trong đó có nguồn tiền nước ngoài không đổ vào như cũ, tác động của các biện pháp chống lạm phát và các biện pháp ngăn chặn nhập khẩu của các tập đoàn nhằm tránh khả năng xảy ra thêm một cuộc khủng hoảng về cán cân thanh toán.


Vài nét tổng quan về xuất nhập khẩu

Số liệu cơ bản của Tổng cục Thống kê (TCTK) cho năm 2007 trong bảng 2 cho thấy là kinh tế Việt Nam dựa dẫm quá nhiều vào kinh tế thế giới. Xuất khẩu bằng 77% GDP và nhập khẩu bằng 90% GDP. Xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu và hàng gia công. Do tính chất gia công, nhập khẩu nguyên liệu và máy móc luôn luôn lớn để phục vụ xuất khẩu. Tính gia công, dựa vào nguyên liệu nhập khẩu này cho thấy là tác dụng lan rộng của kích thích chi tiêu không có trọng điểm đối với nền kinh tế rất thấp. Hệ số lan rộng theo tác giả tính chỉ khoảng 1,07, tức là nếu kích thêm 1 đồng tiêu dùng, chỉ khoảng 1,07 đồng được tạo ra, thêm 7%. Tất nhiên đấy là nói chung, nhưng nếu biết chọn lọc kích thích những ngành không dựa vào nguyên liệu và máy móc nhập khẩu nhằm phục vụ thị trường nội địa thì tỷ lệ lan rộng sẽ cao hơn nhiều.

Nếu so với tổng nhập khẩu thì nhập máy móc và hàng tiêu dùng thấp hơn nhiều so với nhập nguyên liệu và vì vậy các quan chức ở Việt Nam cho rằng nhập để phục vụ sản xuất không có vấn đề , nhưng nếu so với GDP thì tỷ lệ nhập khẩu hàng tiêu dùng và máy móc lên tới 22% GDP năm 2007, và 34% năm 2008 (theo ước lượng của tác giả), đi gần tới chính tỷ lệ tích lũy trên GDP; một con số rất lớn nếu như ta biết rằng tỷ lệ tích lũy trên GDP của nhiều nước cần cho cất cánh công nghiệp chỉ bằng 25%. Đây là những tỷ lệ khó giải thích, nếu không muốn nói là nền kinh tế Việt Nam hiện nay hoàn toàn không có khả năng sản xuất bất cứ một loại máy móc gì, nó thuần túy là một công xưởng gia công, lắp ráp, và thậm chí nền kinh tế tự bỏ tiền đầu tư mua máy móc để phục vụ các hợp đồng gia công và lắp ráp này. Có nhiều dấu hiệu là các máy móc mua vào là máy móc lỗi thời, cần thải từ Trung Quốc. Chính vì thế, thiếu hụt cán cân thương mại với nước ngoài luôn luôn lớn đang là mối đe dọa thường trực cho sự ổn định của nền kinh tế. Thiếu hụt đặc biệt lớn với Trung Quốc; năm 2007, nhập từ TQ 12 tỷ, trong khi chỉ xuất nguyên liệu thô được 3,2 tỷ. Nhập siêu đã lớn từ trước, nhưng đặc biệt lớn trong năm 2008, lên tới 18 tỷ USD, bằng hơn 20% GDP. Theo chuẩn mức quốc tế thông thường, ngưỡng tỷ lệ nhập siêu vượt 3% là đèn báo hiệu cho sự cần thiết điều chỉnh nền kinh tế.

Bảng 1. Xuất nhập khẩu qua hải quan 3 tháng đầu năm trong 3 năm 2007-2009

(USD, giá hiện hành)

2007

2008

2009

Tăng giảm giá trị năm 2009 so với 2008

Xuất khẩu (tỷ US)

10,615

13,114

11,192

3%

(Từ hải quan kể cả xuất vàng)

10,615

13,161

13,479

-15%

Tỷ lệ cơ cấu xuất khẩu (%)

Đầu tư nước ngoài

55,8

58,9

43,8

-37%

Nội địa

44,2

41,1

56,2

17%

Nông nghiệp

21,2

17,7

23,5

14%

Than đá

2,3

2,0

2,3

-1%

Dầu thô

16,6

19,9

12,7

-45%

Hàng công nghiệp

39,4

45,6

46,7

-13%


Nhập khẩu (tỷ US)

12,550

19,979

11,807

-41%

(Từ hải quan kể cả nhập vàng)

12,550

21,509

11,832

-45%

Tỷ lệ cơ cấu nhập khẩu (%)

Đầu tư nước ngoài

35,0

32,1

36,7

-32%

Nội địa

65,0

67,9

63,3

-45%

Hàng tiêu dùng

5,2

8,0

7,8

-42%

Hàng nguyên liệu

56,3

67,3

55,5

-51%

Hàng tích lũy

18,9

17,1

20,1

-30%

Nguồn: Bộ Công Thương

Kịch bản cơ sở về sản xuất cả năm 2009

Tổng cục Thống kê cho đến nay vẫn chưa công bố chi tiết về tài khoản quốc gia cho năm 2008 nên để làm kịch bản cơ sở, tác giả cũng phải xây dựng kịch bản cho năm 2008 và từ đó xây dựng cho năm 2009. Mô hình sử dụng là mô hình sản xuất vào-ra (input-output model) đơn giản, chứ không phải là mô hình dự báo, do đó dựa vào một số giả thiết, nếu giả thiết thay đổi thì kết quả cũng thay đổi.

Tình trạng kinh tế thế giới hiện đang tồi tệ đi. Quí 4 năm 2008, ở Mỹ, GDP giảm 6%. Quí I năm 2009, GDP ở Nhật giảm 12%, ở Đài Loan giảm 8,4%, ở TQ chỉ tăng 6.8% so với 13% năm 2008. Ngân hàng Thế giới dự báo là năm 2009 sản xuất công nghiệp toàn cầu sẽ giảm 15%, và lần đầu tiên trong 80 năm xuất nhập khẩu sẽ giảm. Các tổ chức quốc tế cũng đưa ra những dự báo rất xấu tương tự.

Theo Tổng cục Thống kê, GDP Việt Nam chỉ tăng 3,1% vào 3 tháng đầu năm. Tình hình kinh tế Việt Nam sẽ tồi tệ hơn vì quí I có thể vẫn còn những đơn đặt hàng của thời mà kinh tế thế giới chưa quá tồi tệ; những quí sắp tới sẽ phản ánh rõ hơn các tác dụng tiêu cực của kinh tế thế giới. Xuất khẩu có thể giảm mạnh hơn chứ không chỉ ở mức 15% (theo giá hiện hành) của 3 tháng đầu năm, nếu không có biện pháp kích thích xuất khẩu như chủ động giảm giá đồng Việt Nam, kêu gọi các nhà sản xuất chủ động giảm giá, kể cả không có lời, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước, để làm hàng hóa Việt Nam có sức cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới và khuyến khích tiêu dùng trong nước.

Có thể nói chính sách kích cầu 1 tỷ bằng bù lỗ lãi suất của chính phủ chưa thể có tác dụng gì đến sản xuất và GDP trong quí I này. Nhưng dù có triển khai thì kích cầu bằng bù lỗ sẽ không đạt hiệu quả vì vài lý do sau: (1) đây là biện pháp kích cung chứ không phải là kích cầu, cầu không có thì biện pháp này chỉ làm tăng thêm lợi nhuận cho công ty vì được trả lãi suất thấp (2) việc dùng tiền cho vay đáo nợ là chuyện đương nhiên và không thể kiểm soát được, dù chính phủ muốn, vì người vay dễ dàng mượn ở một ngân hàng và đáo nợ ở một ngân hàng khác, (3) nếu tiếp tục và chuyển thành kích tích lũy, đặc biệt là mở rộng cho việc nhập máy móc nước ngoài, thì sẽ tăng thêm thiếu hụt cán cân thanh toán, vừa phí phạm vừa kích tham nhũng, nhưng không lấp nổi chỗ trống do xuất khẩu giảm gây ra. Và chỗ trống đó ít nhất lên tới 5,6 tỷ USD trong năm 2009.

Bảng 2. Kịch bản cho năm 2009, tính theo tỷ USD theo giá năm 2007

2007

2008

2009

tăng, giảm
2009 so với 2008

Xuất khẩu

54,7

58,5

52,6

-10%

Nhập khẩu

64,2

74,7

64,6

-15%

Nhập khẩu cho sản xuất

48,2

51,1

52,8

3%

Nhập khẩu tiêu dùng, tích luỹ

16,1

23,6

11,8

-50%

Cán cân thương mại

-9,6

-16,2

-12,0

-30%

Tích lũy

29,6

34,1

32,4

-5%

Tiêu dùng cuối cùng

50,5

57,0

57,0

0%

GDP

70,6

74,9

77,4

3,4%

% GDP

6,1%

3,4%

Chú thích: chỉ có số liệu năm 2007 là chính thức từ TCTK, các số liệu khác tính dựa vào mô hình.

Trên cơ sở kết quả sản xuất 3 tháng đầu năm, nếu cho rằng xuất khẩu cả năm giảm 10% (tính theo giá của năm 2007, tương đương với 15% theo giá hiện hành) và nhập khẩu giảm 15%, trong đó nhập cho tiêu dùng và tích lũy giảm 50%, tích lũy giảm 5%, còn tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình và chính phủ không tăng thì GDP sẽ tăng 3,4% năm 2009, và cán cân thương mại thiếu hụt khoảng 12 tỷ USD. Ta thấy mọi yếu tố đều giảm thì tại sao GDP lại có thể tăng (xem cột cuối của bảng 2)? Tăng sản xuất và GDP trong trường hợp này chính là do chuyển tiêu dùng cuối cùng, và tích luỹ từ hàng nhập sang hàng sản xuất trong nước.

Mô hình này cho thấy chỉ cần giảm tỷ lệ nhập khẩu nguyên liệu dùng trong sản xuất 5% thôi thì mô hình cho thấy cùng với kịch bản ở bảng 2 GDP có thể tăng 7,7% thay vì 3,4% . Trung Quốc là một nền kinh tế công xưởng, vì họ sản xuất ra hầu hết các nguyên liệu dùng trong sản xuất, còn Việt Nam là một nền kinh tế gia công, do một tỷ lệ lớn nguyên liệu (đến gần 40%) dựa vào nhập khẩu. Điều này nói lên sự cần thiết ở Việt Nam một chiến lược phát triển công nghiệp phụ trợ mà nhiều nhà kinh tế đã nói tới. Và năm 2009, nếu không có biện pháp thích hợp thì việc thả lỏng cho nhập khẩu kể cả cho tích lũy và tiêu dùng như năm 2008 chắc chắn sẽ làm GDP tăng với số âm lớn.

Kết quả của mô hình cho thấy là nếu tình hình cứ như 3 tháng đầu năm thì GDP cả năm khó tăng hơn 3% và có nguy cơ âm nếu xuất khẩu xấu đi.

Nếu dùng chính sách phát huy nhập khẩu theo nghĩa thay đổi máy móc đã cũ trong lúc này thì tình hình có thể xấu hơn, vì cán cân thương mại sẽ âm lớn hơn. Thay đổi máy móc là quyết định của thị trường chứ không nên là quyết định bơm tiền cho doanh nghiệp nhà nước làm chuyện này.

Cho nên biện pháp kích cầu hữu hiệu đối với nền kinh tế Việt Nam có những đặc thù riêng thì phải là kích cầu tiêu thụ của thành phần mà sản xuất không dựa vào nhập khẩu nguyên liệu và người tiêu thụ nghèo không chạy mua hàng hóa cao cấp nhập khẩu: đó chính là nông dân và công chức nhà nước.

Chính sách kích cầu và hiểu sai các nguyên tắc kinh tế học

Chính sách kích cầu, dù kiểu gì, cũng chỉ là biện pháp nhằm giảm thiểu các khó khăn nhất thời để chờ nền kinh tế trở về quân bình. Khi nền kinh tế mang tính khủng hoảng cấu trúc như ở Việt Nam thì các biện pháp dùng tiền nhà nước để kích trở thành nguy hiểm.

Hiện nay dùng tiền nhà nước nghĩa là gì? Phải chăng là từ ngân sách vì đây là điều mà tất cả mọi người có hiểu biết về kinh tế đều nghĩ thế? Ở Việt Nam thì không thế. Hôm 20-3-2009 BT Võ Hồng Phúc trả lời chất vấn UBTV Quốc hội về gói kích cầu 1 tỷ USD, trong đó có nói tiền kích cầu lấy từ dự trữ ngoại hối quốc gia, do hoạt động ngân hàng mà có, không thuộc ngân sách nhà nước. Đây là chuyện hiểu lạ. Ngân hàng Nhà nước không làm kinh doanh mà chỉ có mục đích điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt là bảo vệ giá trị đồng bạc Việt Nam. Tiền Việt mà NHNN in để mua vào tiền nước ngoài, chính là hình thức tăng khối lượng tiền mặt nội địa và rút đi ngoại tệ, khối lượng tiền dùng trong lưu thông không tăng vì khối lượng tiền phải được hiểu là gồm nội tệ, ngoại tệ và vàng dùng trong lưu thông nằm ngoài NHNN. Bây giờ nhà nước muốn có tiền tiêu, lấy dự trữ ngoại hối, có nghĩa là in khống, tăng khối lượng tiền để tiêu. Đáng lẽ ngân sách muốn bù lỗ lãi suất thì phải bán trái phiếu chính phủ ra thị trường chứ không thể dùng dự trữ ngoại hối như thế. Đây rõ ràng là biện pháp in khống tiền để chi, và lại nằm ngoài ngân sách. Và thật ra việc in khống này vẫn không liên quan gì đến quĩ dự trữ ngoại hối, trừ khi Bộ Tài chính ra lệnh cho NHNN đưa tiền ngoại tệ từ quĩ dự trữ cho mình tiêu.

Hiện nay bù lãi suất 1 tỷ USD (17 ngàn tỷ đồng) theo cách in tiền như vừa qua chưa tạo ra ảnh hưởng tới lạm phát cũng là cái may vì số tiền này chưa tạo ra tín dụng mới mà chủ yếu là đáo nợ. Với một tỷ bỏ ra bù lỗ, thì số tín dụng mới có thể tạo ra là 25 tỷ USD, tức là tăng thêm là 25%. so với tổng tín dụng năm 2008 là 97 tỷ USD (1.687 ngàn tỷ đồng). Nếu chỉ nói đến 2 tỷ USD (chứ chưa nói đến 6 tỷ mà chính phủ đã nói nhưng chưa làm), thì mức tăng tín dụng sẽ là 50% so với năm 2008, đây là tỷ lệ tăng của năm 2008 — nguyên nhân của lạm phát nhảy vọt. Trong trường hợp này, Việt Nam sẽ vừa có lạm phát cao vừa suy thoái, mà ta có thể cần một từ mới, có thể là lạm suy cho ngôn ngữ tiếng Việt. Cho nên dù chính sách kiểu gì, thì NHNN vẫn phải bảo đảm tổng tín dụng năm 2009 không tăng hơn 20-25%, và nếu như lạm phát bắt đầu tăng mạnh thì suất tăng tín dụng có thể phải thấp hơn, và phải bảo đảm có sự độc lập nhất định giữa NHNN và ngân sách.

Vũ Quang Việt

31.3.2009

Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư tới Hội thảo về bô-xít


Trong phiên khai mạc Hội thảo về vấn đề bô-xít ở Tây Nguyên sáng ngày 9/4/2009 Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã đọc bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

>> Khai thác bô xít Tây Nguyên: 3 vấn đề, 3 kiến nghị
>> “Không nên làm bô xít Tây Nguyên ào ào bằng mọi giá”
>> Triển vọng bô-xít Tây Nguyên – Tìm hiểu tại chỗ
>> Khai thác Bô-xít: Lợi ích kinh tế, hậu quả môi trường
>> Đại kế hoạch bô-xít: Lợi ích trước mắt, nguy cơ lâu dài

Tôi được biết, hôm nay có cuộc Hội thảo về vấn đề bô-xít ở Tây Nguyên do đồng chí Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì.

Tôi cho đây là một vấn đề cực kỳ hệ trọng. Vấn đề này trước đây tôi đã từng nghiên cứu, tôi đã có thư gửi đồng chí Thủ tướng nhưng chưa được trả lời.

Tại cuộc Hội thảo quan trọng này, tôi mong các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà hoạt động xã hội hãy nêu cao trách nhiệm trước dân tộc thảo luận một cách khoa học, nghiêm túc, thẳng thắn để kiến nghị với Đảng và Nhà nước một chủ trương đúng đắn về vấn đề bô-xít Tây Nguyên mà tôi cho là không nên khai thác.

Vì đứng về lợi ích toàn cục và sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước, khai thác sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng.

Xin chúc các đồng chí mạnh khoẻ.

Hà Nội, ngày 09 tháng 4 năm 2009

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Theo VIETNAMNET

Nuôi dưỡng và phát huy sức mạnh dân tộc

Sứ mệnh thiêng liêng của thế hệ Việt Nam ngày nay là phải giữ gìn độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ trong một thế giới đầy biến động. Bản lĩnh của người lãnh đạo là phải biết khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy sức mạnh dân tộc được khởi nguồn từ mệnh lệnh trái tim của mỗi người dân Việt Nam.

Từ ngọn lửa yêu nước và khí phách anh hùng của ông cha

Có lẽ bài học vỡ lòng về yêu nước và khí phách anh hùng cho nhiều thế hệ Việt Nam xưa nay là chuyện Trần Quốc Toản đời nhà Trần thế kỷ XIII. Do không được cùng các vương hầu bàn việc quân cơ tìm kế sách chống quân xâm lược, trang thiếu niên anh hùng ấy đã giận dữ bóp nát quả cam đang cầm trong tay lúc nào không biết.

Chưa được dự bàn tại hội Bình Than vì tuổi nhỏ, không có nghĩa là không được thực hiện lòng yêu nước. Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư chép về chuyện này như sau: “Trần Quốc Toản tủi phận lui về huy động hơn nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ “Phá Cường Địch, Báo Hoàng Ân”… khi đối trận tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám đối địch”[1].

Tuổi nhỏ, chí lớn, trang thiếu niên đã giành lấy quyền được yêu nước rồi dũng cảm thể hiện bằng hành động cái quyền thiêng liêng ấy. Hành động được lưu danh sử sách, từng làm xúc động bao nhiêu tấm lòng Việt Nam, nhen nhúm ngọn lửa yêu nước và khí phách anh hùng trong họ.

Sở dĩ cậu bé tuổi chỉ 15, 16 mà có khí phách lớn đến vậy là do đã được nuôi dưỡng trong hào khí của ông cha, hun đúc nên từ ý chí quật cường không chịu khuất phục trước sức mạnh cũng như tham vọng và mọi thủ đoạn đe dọa của kẻ thù. Không có một khí phách của Trần Thủ Độ: “Đầu thần chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo”, khí phách của Trần Quốc Tuấn: “Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi trước đã[1], khí phách của Trần Bình Trọng: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”[1] thì làm sao có được khí phách của trang thiếu niên anh hùng Trần Quốc Toản?

Mà đâu chỉ các vương hầu với khí phách Đông A của dòng họ Trần. Nó còn tượng hình rõ trên hai chữ “Sát Thát” thích trên cánh tay của quân sĩ đời Trần quyết “cảm tử cho tổ quốc quyết sinh” trước quân xâm lược.

Cần nhớ rằng đế quốc Nguyên Mông thời ấy đã từng kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn trải dài từ bờ Thái Bình Dương đến bên kia Hắc Hải chưa hề có trong lịch sử thế giới mới càng hiểu khí phách ấy là lớn đến ngần nào.

Chẳng thế mà, sau khi lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, vua Trần Nhân Tông, nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên Tử, sách “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh” có một cách giải thích độc đáo nhằm nhấn mạnh ý thức cảnh giác của vị vua anh hùng khi gọi ngài là “một vị Vô Lượng Lực Đại Thế Chí Bồ Tát” để chỉ việc “dựng lên ngôi chùa, thời thường dạo chơi để xem động tĩnh, cốt để ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm”!

Cách giải thích có phần khiên cưỡng ấy phải chăng nhằm đề cao lòng yêu nước và tinh thần cảnh giác để đối lập với những kẻ ươn hèn hốt hoảng núp bóng ngoại bang như Trần Di Ái, Trần Ích Tắc. Những con chiên ghẻ này đã bôi nhọ tinh thần Đông Á, phản nước, phản dân muôn đời bị nguyền rủa. Sử chép: “Ích Tắc đã từng gửi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống nam. Đến nay, người Nguyên vào cướp, Ích tắc xin hàng chúng để mong được làm vua. Người Nguyên phong làm An Nam Quốc Vương. Sau khi quân Nguyên thất bại, Ích Tắc trong lòng hổ thẹn, chết ở đất Bắc!” [1].

Nhưng cùng với những chuyện đó, sử cũng lại chép chuyện một hiền thần không phải là quý tộc họ Trần từng khiến tướng giặc Ô Mã Nhi phải thốt lên “Người này …có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước nó còn có người giỏi, chưa thể mưu tính được”. Đó là chuyện Đỗ Khắc Chung tại trại giặc. Khi Ô Mã Nhi hỏi: “Quốc Vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ Sát Thát, khinh nhờn thiên binh, lỗi ấy to lắm”. Khắc Chung đáp: “Vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi, Quốc vương tôi không biết việc đó. Tôi là cận thần, tại sao lại không có”. Nói rồi giơ cánh tay cho xem… [Ô Mã Nhi] sai người đuổi theo Khắc Chung nhưng không kịp”. [1]

Quả vậy, tên tướng xâm lược đã hiểu ra một chân lý: Khi một nước “còn có người giỏi, [thì] chưa thể mưu tính được”. Và thật dễ hiểu, để “mưu tính” thì phải làm cho nước ấy hết người giỏi, mua chuộc người giỏi không được thì phải tìm cách trừ khử, đó là thủ đoạn muôn đời!

Nhắc đến chuyện đời Trần để lưu ý rằng, lịch sử là một nhân tố mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào có thể đứng vững được. Vì vậy, học lại bài học lịch sử để thường xuyên hun đúc và phát huy tinh thần dân tộc thể hiện trong lòng yêu nước và khí phách Trần Quốc Toản cho thế hệ trẻ là điều cực kỳ quan trọng để biết trân trọng từng thước đất ông cha để lại, không ngần ngại hy sinh chiến đấu để bảo vệ và xây dựng tổ quốc thân yêu của mình.

Đến sứ mệnh thiêng liêng của thế hệ Việt Nam ngày nay

Non sông gấm vóc ta có được đến bây giờ từng thấm đẫm bao nhiêu mồ hôi, xương máu của ông cha. Sứ mệnh thiêng liêng của thế hệ Việt Nam ngày nay là phải giữ gìn độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ trong một thế giới đầy biến động.

Điều ấy đòi hỏi phải thể hiện khí phách ấy trong những ứng xử linh hoạt, tinh tế và tỉnh táo trên cơ sở dựa chắc vào bản lĩnh của cả dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, trước hết là của tuổi trẻ Việt Nam, tạo điều kiện cho họ thực hiện quyền yêu nước của mình.

Những sự kiện lịch sử được nhắc đến ở trên có ý nghĩa như những thông điệp của ông cha truyền gửi cho con cháu muôn đời. Những thông điệp kiểu như vậy từ những “tọa độ” có sức âm vang lịch sử như thế, sẽ góp phần nung nấu, giục giã ý thức dân tộc, điểm nhạy cảm nhất trong tâm tư tình cảm người Việt Nam ta.

Nói như vậy không phải tự vỗ ngực để cho rằng ý thức dân tộc là sản phẩm riêng của người Việt Nam. Nhưng cũng sẽ rất nông cạn và đánh mất một động lực cực lớn nếu không thấy hết nét đặc trưng làm nên điểm nhạy cảm độc đáo trong tâm thức người Việt.

Chẳng hạn như, nếu Tôn Trung Sơn, nhà tư tưởng lớn của lịch sử Trung Quốc hiện đại từng nghiêm khắc đưa ra nhận định có tính phê phán nhằm chấn hưng dân khí Trung Hoa: “Ở nước ta gia tộc và tông tộc được đồng bào sùng bái nhất, cho nên có thể nói nước ta chỉ có chủ nghĩa gia tộc, chủ nghĩa tông tộc nhưng thiếu hẳn chủ nghĩa dân tộc”, thì với Việt Nam lại không như thế.

Do đặc điểm hình thành trong cái thế kẹt của “trứng nằm dưới đá”, lòng yêu nước và tinh thần dân tộc là vũ khí sống còn của người Việt chống lại ách đô hộ và âm mưu đồng hóa để có thể tồn tại và phát triển. Không có cái đó, sẽ không có Việt Nam hôm nay.

Chính vì vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những năm 20 của thế kỷ XX đã khẳng định “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước” [2]. Mỗi khi động lực ấy được khởi động, thì “nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn”. [3]

Đây là luận điểm đưa ra tại Đại hội lần thứ II của Đảng họp tại Việt Bắc năm 1951, đổi tên Đảng thành Đảng Lao Động Việt Nam. Tinh thần dân tộc là cội nguồn của sức mạnh Việt Nam, của nền văn hóa Việt Nam được Hồ chí Minh diễn đạt bằng khái niệm lòng yêu nước.

Mỗi khi nền độc lập của đất nước bị uy hiếp thì lòng yêu nước ấy lại bùng phát mãnh liệt: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. …Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày…”.

Những lời bất hủ ấy đã khơi dậy và thổi bùng ngọn lửa yêu nước, thiêu cháy mọi sự ươn hèn khiếp hãi trước sức mạnh và thủ đoạn thâm độc, nham hiểm của kẻ thù, giục giã tinh thần và ý chí mỗi người Việt Nam hành động theo mệnh lệnh của trái tim để “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Mọi thế lực xâm lược trong lịch sử đều bị đánh cho tan tác vì chúng không hiểu được một thực tế Việt Nam, rất Việt Nam là: Họa xâm lăng, nguy cơ mất nước là ngọn lửa thử vàng làm lộ rõ bản lĩnh của từng con người Việt Nam, gắn kết họ lại thành một khối vững chắc vì đã loại bỏ được chuyện vàng thau lẫn lộn do một sự trải nghiệm thật nghiêm khắc: “Thật vàng không sợ lửa”.

Mệnh lệnh của trái tim và sự dẫn dắt của cái đầu biết tư duy

Xin dẫn ra một ví dụ từ lịch sử về ý chí Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam, giải pháp Việt Nam thể hiện rất nổi bật và rất điển hình trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc…” [4]

Mệnh lệnh ấy chính là mệnh lệnh của trái tim Việt Nam. Theo “mệnh lệnh” ấy thì mới có thể muôn người như một “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc” đứng lên đánh giặc cứu nước.

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người hiểu rõ cái giá của hòa bình xây dựng, của tình hữu nghị để cùng phát triển. Nhẫn nại, kiên trì theo đuổi con đường đàm phán, cố gắng tránh chiến tranh, đổ máu, thậm chí không ngần ngại dùng “chính sách Câu Tiễn” để cứu vãn hòa bình đang mong manh như sợi chỉ mành trước gió, mặc dầu hiểu rất rõ bản chất của kẻ thù “ta càng nhân nhượng, địch càng lấn tới” .

Nhưng vì biết như vậy, nên Hồ Chí Minh và Đảng của mình luôn giành thế chủ động trong đấu tranh. Và đấy là bản lĩnh làm nên thắng lợi.

Đương nhiên, lòng yêu nước không chỉ biểu hiện bằng “gươm súng, cuốc thuổng, gậy gộc”, mà có khi chỉ là lá cờ Tổ quốc được giương lên để biểu thị một ý chí, một thái độ, một cảm xúc.

Chẳng hạn, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng che kín một mảng lớn khán đài sân vận động Mỹ Đình trong trận chung kết Việt Nam – Thái Lan. Chẳng ai “lập trình”, “lên kế hoạch”, “phân công, tổ chức” cho những lời gào thét bùng nổ niềm phấn khích vô hạn cũng như “điều hành, xin ý kiến chỉ đạo” những giọt nước sung sướng của Tấn Tài, cũng như của bao người khác trên sân vận động hoặc trước màn hình khi cái đầu kỳ diệu của Công Vinh biến giấc mơ thành hiện thực, đưa bóng đá Việt Nam lên ngôi vô địch.

Nhưng chính vì vậy mà những buồn vui, những háo hức say mê, những gào thét, phấn khích, những giọt nước mắt giàn dụa tuôn trào, mới thật sự nói lên cường độ mãnh liệt và ý nghĩa trong suốt của mệnh lệnh trái tim, những mệnh lệnh được ban ra từ trái tim của mỗi người yêu nước.

Chính những mệnh lệnh được ban ra từ trái tim ấy mới thật sự là sức mạnh vô bờ, khác nào sức mạnh của dòng sông tuôn về biển lớn mà quyết định tốc độ tuôn trào ấy là sức cuộn chảy từ bên dưới chứ không phải những váng bẩn, bèo bọt nổi lên trên.

Ở những đoạn sông chảy xiết, nhất là ở những khúc quanh đột ngột mở ra một hướng mới, đưa dòng nước xuôi về biển, váng bẩn sẽ càng nổi lên nhiều. Những đôi mắt cận thị bị những lợi ích vụn vặt trước mắt che lấp tầm nhìn, sẽ chỉ thấy được những bèo bọt, những váng bẩn mà không sao thấy được sức cuộn chảy từ bên dưới.

Ấy vậy mà, chính sức cuộn chảy từ bên dưới ấy mới làm nên lịch sử! Vì lịch sử là một sự vận động trong thế tương quan giữa nhiều lực lượng nhằm tìm ra một hợp lực, vạch ra con đường đi của nó. Ngay từ đầu, và cho đến bây giờ và mãi mãi, những hợp lực ấy vẫn do các cá nhân hiện thực tạo ra mà vẫn không là phụ thuộc vào cá nhân họ.

Phải chăng vì thế mà Hegel cho rằng động cơ của những nhân vật lịch sử, thật ra, không phải là những nguyên nhân cuối cùng của lịch sử. Cái hợp lực tạo ra sức mạnh của một dân tộc, viết nên những trang hào hùng của lịch sử dân tộc, chính là quần chúng nhân dân. Những người theo mệnh lệnh của trái tim đã có mặt đúng lúc, đúng thời điểm cần có họ. Ở đây, mệnh lệnh của trái tim được dẫn dắt bởi sức mạnh của cái đầu, cái đầu biết tư duy.

Trên ý nghĩa đó mà hiểu sâu về những mệnh lệnh của trái tim yêu nước đẩy tới những hành động, những sự kiện mà chỉ nhìn từ bên ngoài, chỉ là những biểu hiện đơn lẻ, bình thường, rời rạc nhưng phải thấy cho ra cái bản chất tiềm ẩn kín đáo bên trong của lòng yêu nước, điều mà Bác Hồ đòi hỏi “bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày…”.

Biết khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy sức mạnh được khởi nguồn từ mệnh lệnh trái tim ấy chính là bản lĩnh của người lãnh đạo. Làm phôi pha, thất thoát sức mạnh có thể “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn” ấy là có tội với dân tộc, với lịch sử.


Ghi chú:

[1] Đại Việt Sử Ký Toàn thư. Tập II. NXBKHXH. Hà Nội 1988, tr.49, tr. 28, tr.81,tr. 55, tr.53, 54 (theo thứ tự trước sau của câu trích dẫn trong bài. Bản kỷ toàn thư. Quyển V. Kỷ nhà Trần

[2] Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập I. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr.466, 467

[3] Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập VI. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr 171, 172

[4] Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập IV. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr 480

GS Tương Lai

Nguồn: TuanVietNam.net

Các em giỏi quá !


Thầy giáo bắt đầu giờ học văn bằng Chuyện Cô bé Lọ lem. Trước tiên thầy gọi một học sinh lên kể chuyện Cô bé Lọ lem. Em học sinh kể xong, thầy cảm ơn rồi bắt đầu hỏi.

Thầy: Các em thích và không thích nhân vật nào trong câu chuyện vừa rồi?

Học sinh (HS): Thích Cô bé Lọ lem Cinderella ạ, và cả hoàng tử nữa. Không thích bà mẹ kế và chị con riêng bà ấy. Cinderella tốt bụng, đáng yêu, lại xinh đẹp. Bà mẹ kế và cô chị kia đối xử tồi với Cinderella.

Thầy: Nếu vào đúng 12 giờ đêm mà Cinderella chưa kịp nhảy lên cỗ xe quả bí thì sẽ xảy ra chuyện gì?

HS: Thì Cinderella sẽ trở lại có hình dạng lọ lem bẩn thỉu như ban đầu, lại mặc bộ quần áo cũ rách rưới tồi tàn. Eo ôi, trông kinh lắm!

Thầy: Bởi vậy, các em nhất thiết phải là những người đúng giờ, nếu không thì sẽ tự gây rắc rối cho mình. Ngoài ra, các em tự nhìn lại mình mà xem, em nào cũng mặc quần áo đẹp cả. Hãy nhớ rằng chớ bao giờ ăn mặc luộm thuộm mà xuất hiện trước mặt người khác. Các em gái nghe đây: các em lại càng phải chú ý chuyện này hơn. Sau này khi lớn lên, mỗi lần hẹn gặp bạn trai mà em lại mặc luộm thuộm thì người ta có thể ngất lịm đấy (Thầy làm bộ ngất lịm, cả lớp cười ồ).

Bây giờ thầy hỏi một câu khác. Nếu em là bà mẹ kế kia thì em có tìm cách ngăn cản Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử hay không? Các em phải trả lời hoàn toàn thật lòng đấy!

HS: (im lặng, lát sau có em giơ tay xin nói) Nếu là bà mẹ kế ấy, em cũng sẽ ngăn cản Cinderella đi dự vũ hội.

Thầy: Vì sao thế?

HS: Vì …vì em yêu con gái mình hơn, em muốn con mình trở thành hoàng hậu.

Thầy: Đúng. Vì thế chúng ta thường cho rằng các bà mẹ kế dường như đều chẳng phải là người tốt. Thật ra họ chỉ không tốt với người khác thôi, chứ lại rất tốt với con mình. Các em hiểu chưa? Họ không phải là người xấu đâu, chỉ có điều họ chưa thể yêu con người khác như con mình mà thôi.

Bây giờ thầy hỏi một câu khác: Bà mẹ kế không cho Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử, thậm chí khóa cửa nhốt cô bé trong nhà. Thế tại sao Cinderella vẫn có thể đi được và lại trở thành cô gái xinh đẹp nhất trong vũ hội?

HS: Vì có cô tiên giúp ạ, cô cho Cinderella mặc quần áo đẹp, lại còn biến quả bí thành cỗ xe ngựa, biến chó và chuột thành người hầu của Cinderella.

Thầy: Đúng, các em nói rất đúng! Các em thử nghĩ xem, nếu không có cô tiên đến giúp thì Cinderella không thể đi dự vũ hội được, phải không?

HS: Đúng ạ!

Thầy: Nếu chó và chuột không giúp thì cuối cùng Cinderella có thể về nhà được không ?

HS: Không ạ!

Thầy: Chỉ có cô tiên giúp thôi thì chưa đủ. Cho nên các em cần chú ý: dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta đều cần có sự giúp đỡ của bạn bè. Bạn của ta không nhất định là tiên là bụt, nhưng ta vẫn cần đến họ. Thầy mong các em có càng nhiều bạn càng tốt.

Bây giờ, đề nghị các em thử nghĩ xem, nếu vì mẹ kế không muốn cho mình đi dự vũ hội mà Cinderella bỏ qua cơ hội ấy thì cô bé có thể trở thành vợ của hoàng tử được không?

HS: Không ạ! Nếu bỏ qua cơ hội ấy thì Cinderella sẽ không gặp hoàng tử, không được hoàng tử biết và yêu.

Thầy: Đúng quá rồi! Nếu Cinderella không muốn đi dự vũ hội thì cho dù bà mẹ kế không ngăn cản đi nữa, thậm chí bà ấy còn ủng hộ Cinderella đi nữa, rốt cuộc cô bé cũng chẳng được lợi gì cả. Thế ai đã quyết định Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử?

HS: Chính là Cinderella ạ.

Thầy: Cho nên các em ạ, dù Cinderella không còn mẹ đẻ để được yêu thương, dù bà mẹ kế không yêu cô bé, những điều ấy cũng chẳng thể làm cản trở Cinderella biết tự thương yêu chính mình. Chính vì biết tự yêu lấy mình nên cô bé mới có thể tự đi tìm cái mình muốn giành được. Giả thử có em nào cảm thấy mình chẳng được ai yêu thương cả, hoặc lại có bà mẹ kế không yêu con chồng như trường hợp của Cinderella, thì các em sẽ làm thế nào

HS: Phải biết yêu chính mình ạ!

Thầy: Đúng lắm! Chẳng ai có thể ngăn cản các em yêu chính bản thân mình. Nếu cảm thấy người khác không yêu mình thì em càng phải tự yêu mình gấp bội. Nếu người khác không tạo cơ hội cho em thì em cần tự tạo ra thật nhiều cơ hội. Nếu biết thực sự yêu bản thân thì các em sẽ tự tìm được cho mình mọi thứ em muốn có. Ngoài Cinderella ra, chẳng ai có thể ngăn trở cô bé đi dự vũ hội của hoàng tử, chẳng ai có thể ngăn cản cô bé trở thành hoàng hậu, đúng không?

HS: Đúng ạ, đúng ạ!

Thầy: Bây giờ đến vấn đề cuối cùng. Câu chuyện này có chỗ nào chưa hợp lý không ?

HS: (im lặng một lát) Sau 12 giờ đêm, mọi thứ đều trở lại nguyên dạng như cũ, thế nhưng đôi giày thủy tinh của Cinderella lại không trở về chỗ cũ.

Thầy: Trời ơi! Các em thật giỏi quá! Các em thấy chưa, ngay cả nhà văn vĩ đại (nhà văn Pháp Charles Perrault, tác giả truyện Cô bé Lọ lem) mà cũng có lúc sai sót đấy chứ. Cho nên sai chẳng có gì đáng sợ cả. Thầy có thể cam đoan là nếu sau này trong số các em có ai muốn trở thành nhà văn thì nhất định em đó sẽ có tác phẩm hay hơn tác giả của câu chuyện Cô bé Lọ lem! Các em có tin như thế không?

Tất cả học sinh vỗ tay reo hò hoan hô.

Đây là câu chuyện được dịch giả Huy Đường lược dịch từ báo Trung Quốc và được đăng trên tạp chí Tia Sáng. Một câu chuyện hay như cổ tích những hãy xem góc nhìn của người Trung Quốc về bài báo này trong entry sau.

« Bài viết cũ hơn

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.